Trieu chung nay de nham giua ung thu va Covid 19

Triệu chứng này dễ nhầm giữa ung thư và Covid-19

khởi đầu ngày mới với tin tức sức khỏe, bạn đọc còn có thể xem thêm các bài viết: ứng phó với di chứng hậu Covid-19: Chuyên gia tiết lộ 5 thứ bổ não nhất; oi bức làm tăng nguy cơ đau tim: Làm gì để tránh?; vì sao mụn trứng cá lại bị ngứa, cần xử lý thế nào?

Đến 70% bệnh nhân ung thư gặp triệu chứng dễ nhầm với hậu Covid-19 này

Các triệu chứng ung thư thường không xảy ra một sớm một chiều mà đi vào cuộc sống người bệnh trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.

Theo Tổ chức nghiên cứu ung thư của Anh Cancer Research UK, có đến 50 – 70% bệnh nhân ung thư gặp chứng khó thở.

Đặc biệt, khó thở là một triệu chứng mà hiện rất nhiều người khỏi Covid-19 đang gặp phải. Vì vậy, điều xung yếu là phải đi khám để xác định chính xác nguyên nhân để tránh bỏ sót bệnh hiểm nguy.

Nói đến ung thư, nhận biết các dấu hiệu cảnh báo là rất xung yếu vì phát hiện sớm sẽ dễ cứu hơn rất nhiều.

Ngày mới với tin tức sức khỏe: Triệu chứng này dễ nhầm giữa ung thư và Covid-19 - ảnh 1

70% bệnh nhân ung thư cũng bị khó thở

Có một số triệu chứng phổ biến ở các loại ung thư khác nhau, như chứng khó thở.

Chứng khó thở xảy ra khi một người không nhận đủ oxy và phổi cố gắng hút nhiều không khí hơn để bù đắp.

Theo Cancer Research UK, cứ 10 bệnh nhân ung thư thì có từ 5 đến 7 người có triệu chứng khó thở vào một thời khắc nào đó trong thời gian bệnh. Con số này tăng lên 9/10 (90%) đối với những người bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Bạn đọc có thể xem thêm nội dung bài viết này trên trang sức khỏe ngày 2.4.

ứng phó với di chứng hậu Covid-19: Chuyên gia tiết lộ 5 thứ bổ não nhất

Một chế độ ăn uống tốt có thể nuôi dưỡng, trẻ hóa các tế bào não và ngăn ngừa sự suy giảm nhận thức.

Theo chuyên trang y khoa Medical News Today, Covid-19 có thể tác động đến chức năng nhận thức thần kinh và có thể làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ.

Chứng sa sút trí tuệ là hội chứng làm thương tổn các tế bào não và tác động đến chức năng nhận thức của não, dẫn đến khó ghi nhớ, suy nghĩ và tập trung.

Ngày mới với tin tức sức khỏe: Triệu chứng này dễ nhầm giữa ung thư và Covid-19 - ảnh 2

Covid-19 có thể tác động đến chức năng nhận thức thần kinh và có thể làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ

n

mặc dầu nhiều trường hợp sa sút trí tuệ có thể khó hồi phục, nhưng việc chăm sóc sức khỏe não bộ có thể ngăn chặn sa sút trí tuệ.

Chế độ ăn uống tốt có thể nuôi dưỡng và trẻ hóa các tế bào não và ngăn ngừa sự suy giảm nhận thức, giúp cải thiện tình trạng này.

Sau đây, tiến sĩ Asma Alam, chuyên gia tham vấn dinh dưỡng từ trung tâm chăm sóc sức khỏe Gandharva Wellness (Ấn Độ) chỉ ra 5 loại thực phẩm nên thêm vào chế độ ăn uống để ngăn ngừa chứng sa sút trí tuệ.

Rau lá xanh. Các loại rau xanh như rau bó xôi, xà lách, cải thìa… là một số loại rau có lượng vitamin B cần yếu như folate và B9 giúp giảm trầm cảm, đồng thời tăng cường nhận thức.

Quả mọng. Các loại quả mọng như việt quất, quả mâm xôi, phúc bồn tử, cherry… chứa nhiều loại flavonoid anthocyanin – một chất oxy hóa cực mạnh giúp giảm viêm và duy trì sức khỏe não bộ tốt. Bạn đọc có thể xem thêm 3 loại thực phẩm nên thêm vào chế độ ăn uống để ngăn ngừa chứng sa sút trí tuệ trên trang sức khỏe ngày 2.4.

oi bức làm tăng nguy cơ đau tim: Làm gì để tránh?

Khi mùa hè đang đến, nhiệt độ tăng đột ngột có thể gây ra các vấn đề về tim ở những người dễ bị thương tổn.

Không chỉ mùa đông khắc nghiệt, những ngày hè oi bức cũng có thể làm tăng nguy cơ đau tim. Nghiên cứu cho thấy bất kỳ loại biến đổi khí hậu mạnh mẽ nào cũng có thể dẫn đến sự gia tăng các cơn đau tim.

Tiến sĩ Hedvig Andersson, bác sĩ nghiên cứu tim mạch tại Đại học Michigan (Mỹ), cho biết trong khi thân thể có các hệ thống hiệu quả để phản ứng với những thay đổi về nhiệt độ, nhưng sự biến động nhanh và khắc nghiệt hơn có lẽ sẽ tạo ra nhiều căng thẳng hơn, có thể góp phần gây ra các vấn đề sức khỏe.

Ngày mới với tin tức sức khỏe: Triệu chứng này dễ nhầm giữa ung thư và Covid-19 - ảnh 3

Không chỉ mùa đông khắc nghiệt, những ngày hè oi bức cũng có thể làm tăng nguy cơ đau tim

Khi mùa hè đang đến, nhiệt độ tăng đột ngột có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim ở những người dễ bị thương tổn. Bên cạnh đó, những người bị bệnh tim có nhiều nguy cơ bị đột quỵ do nhiệt, một tình trạng hàng đầu khác.

Đặc biệt, vào mùa hè, nhiệt độ thân thể tăng khi moi người di chuyển đến hoặc du lịch đến nơi có khí hậu nóng, tim sẽ đập nhanh hơn và làm việc nhiều hơn để bơm máu lên bề mặt da giúp bài xuất mồ hôi để làm mát thân thể, tiến sĩ Sunil Jain, Trưởng khoa Cấp cứu, Trung tâm Nghiên cứu và Bệnh viện Jaslok (Ấn Độ), cho biết.

Ông cho biết thêm, ai cũng có thể bị đột quỵ do nắng nóng, nhưng những người bị bệnh tim và các bệnh tim mạch khác có nguy cơ cao hơn. Hãy khởi đầu ngày mới với tin tức sức khỏe để xem thêm nội dung bài viết này bạn nhé!



Click: Xem thêm

Phat hien 49 ca mac Covid 19 nhieu nhat trong 1

Thêm 7.734 ca mắc Covid-19, dịch ở Hà Nội hạ nhiệt

Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TP Hà Nội cho biết từ 18 giờ ngày 31-3 đến 18 giờ ngày 1-4, TP Hà Nội ghi nhận 7.734 ca mắc Covid-19 mới, trong đó có 2.076 ca cộng đồng, 5.658 ca đã cách ly.

Các bệnh nhân phân bố tại 329 xã, phường, thị trấn thuộc 30/30 quận, huyện, thị xã.

Một số quận, huyện ghi nhận nhiều bệnh nhân trong ngày như: Hà Đông (813); Long Biên (470); Sóc Sơn (462); Hoàng Mai (356); Bắc Từ Liêm (338); Nam Từ Liêm (329).

Cộng dồn số mắc Covid-19 tại Hà Nội trong đợt dịch 4 (từ ngày 29-4-2021) là 1.483.054 ca.

Hiện nay, dịch Covid-19 trên địa bàn Hà Nội đã có dấu hiệu hạ nhiệt và được kiểm soát. giả dụ đầu tháng 3-2022, số ca mắc Covid-19 gia tăng mạnh, thậm chí có ngày ghi nhận số mắc kỷ lục (hơn 32.600 ca trong ngày 8-3) thì nay đã hạ nhiệt còn khoảng gần 8.000 ca/ngày. Cùng với đó, người bệnh được sử dụng thuốc kháng virus sớm, giảm tỉ lệ nhập viện và giảm tỉ lệ tử vong do Covid-19.

Theo số liệu từ Cục Quản lý khám chữa bệnh thuộc Bộ Y tế, cập nhật đến 31-3, Hà Nội có gần 194.000 ca mắc Covid-19 theo dõi, điều trị tại nhà; 156 bệnh nhân đang điều trị tại khu cách ly, 1.254 bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện (chiếm 0,63% tổng ca đang theo dõi, điều trị).

Số F0 phải nhập viện và F0 nặng, nguy kịch tại Hà Nội đang giảm dần trong thời gian gần đây. Hiện tỷ lệ bệnh nhân Covid-19 diễn biến nặng, nguy kịch tại Hà Nội chỉ khoảng 0,1% tổng số ca đang theo dõi, điều trị.

Trong số các bệnh nhân đang điều trị tại viện có 896 F0 ở mức độ trung bình, 199 ca nặng, nguy kịch. Trong số các ca nặng nguy kịch có 169 ca phải thở oxy mask, gọng kính; 3 ca phải thở oxy dòng cao HFNC; 12 ca thở máy không xâm lấn; 15 ca phải thở máy xâm lấn…

Thêm 7.734 ca mắc Covid-19, dịch ở Hà Nội hạ nhiệt - Ảnh 1.



Click: Xem thêm

Truoc va sau khi nhau quy ong can luu y

Trước và sau khi nhậu, quý ông cần lưu ý những điều này nếu không muốn…

Thứ Sáu, ngày 01/04/2022 19:00 PM (GMT+7)

Nhậu là thói quen của không ít người, dù uống ít hay nhiều nếu không lưu ý sẽ liên quan rất lớn tới sức khỏe.

Trước và sau khi uống rượu cần lưu ý gì?

– Uống rượu khi bụng đói

Một nghiên cứu mới đây cho thấy, uống rượu khi bụng đói làm tăng nguy cơ bị huyết áp cao. Đây là kết luận sau khi các nhà nghiên cứu tiến hành khảo sát thói quen ăn uống của hơn 2.600 người trưởng thành. Kết quả cho thấy những người thường uống rượu khi đói bụng có nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp cao gấp 1,5 lần so với những người không bao giờ uống rượu.


Trước và sau khi nhậu, quý ông cần chú ý những điều này nếu không muốn gặp họa - 1

Những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc uống nhiều rượu với bệnh cao huyết áp. Thế nhưng, nghiên cứu mới nhất còn cho thấy rằng, nếu uống một lượng nhỏ rượu mà không ăn kèm thứ gì sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp hơn, ngay cả khi bạn không uống nhiều. Cả nam và nữ đều có kết quả tương tự, bất kể loại rượu nào.

– Tắm sau khi uống rượu

Tắm ngay sau khi uống rượu bia sẽ làm tăng gánh nặng cho đường tiêu hóa, dễ làm thương tổn chức năng đường tiêu hóa. Nhiều người nghĩ rằng, uống một tí rượu rồi tắm nước nóng sẽ rất dễ chịu, nhưng thực tế điều này có thể dẫn tới một số bệnh tim bộc phát.

Sau khi uống rượu, lượng glucose dự trữ trong thân thể sẽ bị tiêu hao một lượng lớn do quá trình tuần hoàn máu bị đẩy nhanh khi tắm khiến thân nhiệt giảm nhanh chóng. Đồng thời, những chất trong rượu ức chế hoạt động thường ngày của gan, cản trở quá trình phục hồi việc dự trữ glucose trong thân thể. Điều này có thể dễ dẫn đến sốc, thậm chí gây tử vong trong trường hợp nặng.

Trước và sau khi nhậu, quý ông cần chú ý những điều này nếu không muốn gặp họa - 3

Vì vậy, bác sĩ cũng nhắc nhở mọi người tốt nhất không nên tắm ngay sau khi uống rượu. Có người lầm tưởng tắm nước nóng có thể giải rượu, nhưng thực tế, điều này chỉ làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu máu cục bộ ở tim. Đặc biệt, nếu có các triệu chứng như chóng mặt, tức ngực… cần ngừng tắm ngay và đến bệnh viện điều trị.

– Không ăn các món thạch lạnh khi nhậu

Các món lạnh có thể là lựa chọn yêu thích của một số người khi đi nhậu, nhưng điều này không tốt cho bao tử, đặc biệt là vào mùa đông. Món thạch cần trải qua nhiều công đoạn phức tạp, thêm nhiều loại gia vị như phèn chua, khi uống với bia rượu sẽ khiến máu trong thân thể chậm lại.

Ngoài ra, phèn chua và rượu có xu hướng kích thích và tăng gánh nặng cho gan trong quá trình tiêu hóa và hấp thụ, dễ gây ra các bệnh về gan.

– Không nên ăn cùng với các loại thịt nướng

Các món nướng ăn kèm với bia rượu rất ngon miệng, đây cũng là thói quen của nhiều người. Tuy nhiên, thói quen này hoàn toàn không tốt và cần phải tránh.

Trước và sau khi nhậu, quý ông cần chú ý những điều này nếu không muốn gặp họa - 4

Thức ăn sau khi nướng dễ mất đi chất béo và chất đạm, đồng thời khi nướng ở nhiệt độ cao sẽ sản sinh nhiều chất gây ung thư.

Ngoài ra, rượu bia sẽ xúc tiến sự giãn nở của các mạch máu, các thành phần độc hại của thịt nướng có xu hướng xâm nhập vào các mạch máu và màng nhầy của đường tiêu hóa khiến thân thể dễ hấp thụ hơn.

– Không ăn cà rốt khi uống rượu

Cà rốt chứa nhiều caroten, nếu kết hợp với rượu sẽ gây ra các phản ứng có hại cho gan, theo thời gian dễ dẫn tới các bệnh gan xuất hiện.

– Uống trà sau khi uống rượu

Uống trà sau khi uống rượu sẽ làm thương tổn thận, đau dây lưng, phù nề chân, ho có đờm. Nhiều người cho rằng uống trà có thể giải rượu, nhưng quan niệm này hoàn toàn sai sót.

Trước và sau khi nhậu, quý ông cần chú ý những điều này nếu không muốn gặp họa - 5

Rượu có vị cay nồng, khi đi vào kinh lạc gan phổi sẽ làm dương khí tăng lên. Lúc này, trà có vị đắng tính hàn, sự kết hợp này hoàn toàn không tốt cho thận.

Những loại thực phẩm giảm triệu chứng buồn nôn sau khi uống nhiều bia rượu

– Nho

Sau khi uống rượu, hơi thở rất nồng, nếu ăn vài trái nho tươi, chất trong nho sẽ giúp trung hòa etanol trong rượu tạo thành este, khiến thân thể cảm thấy dễ chịu và bớt say.

– Cà chua

Cà chua cũng là một loại thực phẩm chống say hiệu quả. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, cà chua có chứa đường fructose đặc biệt có tác dụng xúc tiến quá trình phân hủy của rượu. Vì vậy sau khi uống rượu nên uống 300 ml nước ép cà chua dù say hay không để bảo vệ gan.

Trước và sau khi nhậu, quý ông cần chú ý những điều này nếu không muốn gặp họa - 6

– Quả ô liu

Quả ô liu có thể được ăn sống hoặc sấy khô. Nếu bạn cảm thấy không khỏe sau khi uống rượu, nôn mửa, chán ăn… bạn có thể ăn trực tiếp một vài quả ô liu, hoặc hầm ô liu với thịt.

– Bưởi

Bưởi có tác dụng giải rượu rất tốt, dù bạn không say sau khi uống rượu thì lượng cồn vẫn chưa đào thải hết ra ngoài thân thể. Lúc này, bạn có thể ăn vài múi bưởi, vừa giúp tỉnh táo vừa làm hơi thở thơm tho hơn.

– Chuối

Trong trường hợp khó chịu sau khi uống bia rượu, bạn có thể ăn chuối. Chuối có tác dụng cải thiện lượng đường trong máu, giảm nồng độ cồn, chứng buồn nôn sẽ biến mất.

Nguồn: https://baogiaothong.vn/truoc-va-sau-khi-nhau-quy-ong-can-chu-y-nhung-dieu-nay-neu-khong-muon-ga…

Uống rượu để ngăn ngừa lây nhiễm COVID-19: Sai lầm nhiều quý ông mắc phải

sai sót cực kỳ hiểm nguy của nhiều quý ông khi cho rằng, uống rượu giúp sát khuẩn trong cổ họng và diệt virus.

Click: Xem thêm

Dẻ máy nỏ trong nhà nhung dóng của chau chet

Để máy nổ trong nhà nhưng đóng cửa, cháu chết, bà và mẹ nguy kịc…

Để máy nổ trong nhà nhưng đóng cửa, cháu chết, bà và mẹ nguy kịch - Ảnh 1.

Ngôi nhà nơi xảy ra vụ tai nạn nghi ngạt khí làm cháu chết, bà và mẹ nguy kịch – Ảnh: ĐỨC MINH

Chiều 1-4, bác sĩ Nguyễn Như Ý – phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên – cho biết bà P.T.H. (72 tuổi) và bà T.T.M. (46 tuổi, con ruột bà H., ở cùng nhà tại thôn Mỹ Long, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) vẫn đang hôn mê, thở máy, tiên lượng xấu.

Theo ông Huỳnh Văn Khoa – chủ tịch UBND huyện Tuy An – khoảng 5h30 ngày 1-4, người thân phát hiện bà H., bà M. và cháu T.Đ.Đ.H. (13 tuổi, con trai bà M.) nằm chết giấc trong nhà.

Cháu H. được đưa đến Trung tâm Y tế huyện Tuy An cấp cứu nhưng đã tử vong. Còn bà H. và bà M. được chuyển lên tuyến trên trong tình trạng nguy kịch. Được biết, bà M. là mẹ đơn thân nuôi con, lâu nay ở chung nhà với mẹ ruột.

Ông Khoa cho biết theo thông tin ban sơ, tối 31-3, vì mưa gió lớn nên địa bàn thôn Mỹ Long bị cúp điện. Gia đình bà M. chạy máy nổ nhằm sục khí oxy cho bể nuôi chình. Máy nổ để trong nhà nhưng cửa nhà lại đóng suốt đêm nên nghi là cả ba người bị ngạt khí độc.

Đã tìm thấy 1 trong 2 người mất tích do mưa gió lớn

Ông Trần Sáu – chủ tịch UBND xã An Hòa Hải (huyện Tuy An) – cho biết sáng 1-4, lực lượng chức năng đã tìm thấy thi thể ông N.S. (40 tuổi), người bị sóng lớn cuốn mất tích vào sáng 31-3 khi đang cho tôm hùm giống ăn trên bè. Hiện lực lượng tìm kiếm đang nỗ lực tìm tung tích người mất tích còn lại là em T.V.T. (14 tuổi) cũng mất tích vào sáng 31-3 khi đang chạy ghe máy giữa lúc sóng to, mưa gió lớn.

Theo Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Phú Yên, mưa gió lớn các ngày 30 và 31-3 khiến tỉnh này bị thiệt hại sơ bộ hơn 171 tỉ đồng. Toàn tỉnh có 22 căn nhà bị sập và tốc mái, 13.484ha lúa đông xuân (chiếm hơn 50% diện tích gieo sạ toàn tỉnh) trong giai đoạn trổ bông, chín sáp và chuẩn bị thu hoạch bị ngã đổ, ngập nước; có 92 ghe, thuyền bị chìm; thiệt hại hoàn toàn 2.000 lồng với 600.000 con tôm hùm ươm, ngoài ra còn 450 lồng với 190.000 con tôm hùm ươm bị hư hỏng, trôi dạt…

Click: Xem thêm

Benh nhan Covid 19 de dong mac vi khuan phe cau

Bệnh nhân Covid-19 dễ đồng mắc vi khuẩn phế cầu gây tổn hại phổi

Bệnh nhân sau khi khỏi Covid-19 có thể gặp nhiều di chứng, dễ mắc các tác nhân gây bệnh khác và chuyển nặng, phổ biến là vi khuẩn phế cầu gây viêm phổi.

Ông Trần Chí Thành (63 tuổi, ở quận Bình Tân, TP HCM) sau 2 tháng khỏi Covid-19 nhập viện cấp cứu do tức ngực, khó thở. Qua thăm khám, các bác sĩ Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP HCM phát hiện ông bị xẹp phổi, tràn mủ màng phổi, dẫn đến suy hô hấp. Kết quả X-quang phát hiện phổi phải ông Thành có ổ áp xe, nhiễm trùng nặng do vi khuẩn phế cầu khuẩn. Các bác sĩ tiến hành phẫu thuật để dẫn lưu mủ từ màng phổi ra ngoài. Sau thời gian điều trị hăng hái, có sử dụng các loại kháng sinh, ông Thành không còn tình trạng nhiễm trùng phổi, sức khỏe cải thiện và dần hồi phục.

Thăm khám cho trường hợp của ông Thành,TS.BS Nguyễn dũng cảm, Trưởng khoa Phẫu thuật Tim mạch – Lồng ngực, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết, thương tổn phổi sau nhiễm Covid-19 là di chứng thường gặp đối với F0. Người bệnh có nhiều mức độ thương tổn khác nhau nhưng phổ biến nhất là tình trạng viêm phổi, xơ phổi, tác động chức năng hô hấp, gây khó khăn trong điều trị, có thể tái nhiễm nhiều lần, thậm chí trở nên nhiễm trùng mạn tính.

Một nghiên cứu hệ thống và phân tách tổng hợp trên thế giới cho thấy có tới 19% bệnh nhân mắc Covid-19 bị đồng mắc với các tác nhân khác và 24% bị bội nhiễm. Nguyên nhân đồng mắc hàng đầu là vi khuẩn trong đó đồng mắc vi khuẩn phế cầu với nCoV đứng thứ 2. Đồng nhiễm viêm phổi do phế cầu và Covid-19 có thể để lại di chứng nặng nề ở hệ thần kinh, gây viêm màng não, thương tổn phổi hoặc tim do nhiễm khuẩn huyết, nhanh chóng tử vong do suy hô hấp.

BS.CKI Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa Hệ thống tiêm chủng VNVC, thông tin, những bệnh nhân sau khi khỏi bệnh Covid-19, có thể phải trải qua những triệu chứng hậu Covid-19 khiến thân thể mỏi mệt, hệ miễn dịch bị tác động. Việc mắc bất kỳ một tác nhân gây bệnh nào khác trong giai đoạn này đều khiến sức khỏe trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là vi khuẩn phế cầu với nhiều tuýp khác nhau.

Theo bác sĩ Chính, phế cầu khuẩn tác động lá phổi không kém Covid-19. Vi khuẩn phế cầu thường trú ở vùng mũi họng của khoảng 30% người khỏe mạnh. Một số người có nguy cơ cao bị phế cầu khuẩn xâm nhập, gây bệnh như trẻ dưới 5 tuổi. Người già từ 65 tuổi trở lên, người nghiện rượu, người hút thuốc lá, người bị các bệnh phổi mạn tính, người bị suy giảm hệ thống miễn dịch. Sau khi khỏi bệnh Covid-19, khi hệ miễn dịch suy yếu cũng là lúc phế cầu khuẩn dễ dàng xâm nhập vào các cơ quan trong thân thể người.

Vaccine giúp người lớn tuổi tránh nguy cơ kép Covid-19 và phế cầu khuẩn tàn phá lá phổi. Ảnh: Hiếu Nguyễn

Vaccine giúp người lớn tuổi tránh “nguy cơ kép” Covid-19 và phế cầu khuẩn tàn phá lá phổi. Ảnh: Hiếu Nguyễn

Chia sẻ về tác động của viêm phổi do phế cầu khuẩn, ThS.BS Lê Phan Kim Thoa – Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP HCM cũng cho biết, viêm phổi do phế cầu khuẩn hiểm nguy ở trẻ nhỏ với tỷ lệ tử vong có thể lên đến 50%. Trẻ bị viêm phổi do phế cầu khuẩn thường có những triệu chứng như sốt, ớn lạnh, ho, thở nhanh, khó thở, đau ngực, lú lẫn, kém tỉnh táo. Với trẻ chưa được tiêm vaccine Covid-19, đồng nhiễm phế cầu và Covid-19 càng khiến cho tình trạng sức khỏe của bé diễn tiến xấu đi, đáng lo nhất là viêm phổi và viêm màng não. Nếu không được phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời, trẻ có thể chịu nhiều di chứng nặng nề như điếc, mù, liệt, trí nhớ kém, đau đầu kéo dài…

Các chuyên gia cũng thông tin, hiện nay Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đang coi xét đưa Covid-19 trở nên bệnh đặc hữu (tác nhân gây bệnh tồn tại thường xuyên, tỷ lệ mắc ổn định, có thể dự báo). Sống chung với Covid-19 tức là có thể đối diện với nguy cơ đồng nhiễm virus, vi khuẩn với Covid-19 khiến phổi cùng lúc bị nhiều thương tổn. Vì vậy, ngoài vaccine ngừa Covid-19, tiêm vaccine ngừa phế cầu khuẩn, vaccine ngừa virus cúm là “lựa chọn kép” góp phần giúp bảo vệ phổi.

Chị Ngọc Anh (Quận 7, TP HCM) chia sẻ, sau khi tiêm đủ 3 mũi vaccine Covid-19, cả nhà chị đều tiêm bổ sung vaccine phòng viêm phổi, cúm. Theo chị Ngọc Anh, việc tiêm thêm 2 loại vaccine này giúp cả nhà nâng cao đề kháng hệ miễn dịch.

Bác sĩ Lê Phan Kim Thoa thăm khám cho bệnh nhi tại khoa Nhi BVĐK Tâm Anh TP HCM. Ảnh: Thanh Thúy

Bác sĩ Lê Phan Kim Thoa thăm khám cho bệnh nhi tại khoa Nhi BVĐK Tâm Anh TP HCM. Ảnh: Thanh Thúy

Việt Nam có 2 loại vaccine phòng bệnh phế cầu dành cho trẻ từ 6 tuần tuổi đến 5 tuổi, cho trẻ từ 6 tuần tuổi và người lớn. Đây là những vaccine xung yếu được hệ thống tiêm chủng nỗ lực cung ứng đầy đủ nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêm chủng cho trẻ em, người lớn.

Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có hơn 2 triệu trẻ em trên toàn cầu tử vong do viêm phổi, nhiều hơn số người chết do bệnh AIDS, sốt rét và sởi cộng lại. Hiện nay thế giới đã có hơn 53 quốc gia ứng dụng vaccine phế cầu ngừa viêm phổi trong chương trình tiêm chủng quốc gia.

Ngoài phế cầu khuẩn và nCoV, viêm phổi còn do một số nguyên nhân khác gây ra như virus cúm, virus sởi, virus gây bệnh thủy đậu, ho gà, vi khuẩn Hib… Đây là những tác nhân hiểm nguy có thể phòng ngừa được bằng các loại vaccine cúm, vaccine ho gà, bạch hầu, uốn ván, Hib, thủy đậu. Những virus, vi khuẩn này cũng có khả năng đồng nhiễm với Covid-19, khiến bệnh nhân phải đối mặt với tình trạng nguy kịch bên trong phòng hồi sức hăng hái (ICU).

Lê Nguyễn

Những mối quan tâm của người dân về viêm phổi do phế cầu, vaccine phòng ngừa sẽ được giải đáp bởi các chuyên gia về y khoa dự phòng, bệnh lây nhiễm, nhi khoa trong chương trình tham vấn trực tuyến: “Viêm phổi do phế cầu khuẩn và vaccine phòng ngừa”: BS.CKI Bạch Thị Chính – Giám đốc Y khoa, Hệ thống tiêm chủng VNVC; BS Trương Hữu Khanh – Phó Chủ tịch Liên chi Hội lây nhiễm TP HCM; ThS.BS Lê Phan Kim Thoa – Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP HCM.

Chương trình được phát trên báo VnExpress vào 20 giờ thứ sáu ngày 1/4. Bạn đọc có thể gửi thắc mắc tại đây để các chuyên gia giải đáp.

Click: Xem thêm

Uong ruou moi ngay nguoi dan ong non ra mau

Uống rượu mỗi ngày, người đàn ông nôn ra máu phải cấp cứu

Ngày 1.4, bác sĩ Nguyễn Đăng Hoàng (Khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam) cho biết tại khoa Cấp cứu, bệnh nhân nôn ộc ra khoảng nửa lít máu tươi lẫn máu cục, tụt huyết áp, tình trạng rất nặng. Khai thác bệnh sử, người thân cho biết, 10 năm nay mỗi ngày bệnh nhân đều uống khoảng 1 lít rượu.

ngay tức khắc bệnh nhân được bác sĩ cấp cứu hồi sức hăng hái để ổn định huyết động. Qua thăm khám và các kết quả cận lâm sàng, bác sĩ chuẩn đoán xuất huyết tiêu hóa trên nghi do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản trên bệnh nhân xơ gan rượu, các bác sĩ tua trực nhanh chóng hội chẩn ngay với bác sĩ khoa Hồi sức hăng hái và bác sĩ nội soi khoa Nội Tiêu hóa đưa ra phương án xử trí cấp cứu, dự tính sẵn máu để truyền cho bệnh nhân khi cấp thiết.

Khi huyết động của bệnh nhân đã ổn định, ê kíp nội soi khoa Nội Tiêu hóa đã tiến hành nội soi thực quản, bao tử tá tràng, phát hiện bên trong có rất nhiều máu đỏ lẫn máu cục lên đến gần 500ml trong bao tử. Thực quản có 4 cột tĩnh mạch giãn lớn, ngoằn ngoèo, gần tâm vị có búi tĩnh mạch bị giãn vỡ, máu đang phun thành tia, ngay tức khắc đã được bác sĩ nội soi can thiệp thắt búi giãn đang xuất huyết bằng vòng cao su.

Sau khi nội soi can thiệp cấp cứu kết hợp truyền bù máu và điện giải, điều chỉnh rối loạn đông máu và các điều trị hỗ trợ khác, bệnh nhân đã được cầm máu hoàn toàn, mạch, huyết áp ổn định, tỉnh táo hơn, tiếp xúc tốt hơn.

n

Uống rượu mỗi ngày, người đàn ông nôn ra máu phải cấp cứu - ảnh 1

Hình ảnh nội soi cho thấy thực quản có búi tĩnh mạch bị giãn vỡ

Bác sĩ chuyên khoa 1 Trần Kim Thương, Phó Khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện đa khoa Khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam, cho biết chảy máu tiêu hóa cao do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản là một biến chứng đặc biệt nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mệnh bệnh nhân. Bệnh thường gặp ở các bệnh nhân xơ gan, ung thư gan trên nền xơ gan, suy tế bào gan, rối loạn nghiêm trọng chức năng đông máu.

Xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản chiếm khoảng 70% xuất huyết tiêu hóa trên bệnh nhân xơ gan, tỷ lệ tái phát cao 80% mỗi năm nếu không dự phòng. Ở các nước phát triển có phương tiện hồi sức tốt, tỷ lệ tử vong do xuất huyết vỡ giãn tĩnh mạch thực quản vẫn còn cao 30-35% hay tái phát và một số trường hợp vẫn rất khó kiểm soát.

Những bệnh nhân bệnh bị xuất huyết cấp tính do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản đều cần phải được xử trí cấp cứu kịp thời, kết hợp đa chuyên khoa. Khả năng kiểm soát đường thở, thuốc giảm áp lực tĩnh mạch cửa, kháng sinh, truyền máu kết hợp với thắt búi tĩnh mạch bị giãn vỡ qua nội soi là những nhân tố then chốt quyết định thành công của ca bệnh. Đặc biệt, trong những trường hợp xuất huyết tiêu hóa nghi do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản thì thủ thuật nội soi can thiệp thắt tĩnh mạch thực quản cần thực hành trong vòng 12 giờ giờ đầu.

Những năm gần đây, thắt giãn tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su qua nội soi là kỹ thuật mới được vận dụng rộng rãi, có hiệu quả cao và ít biến chứng hơn nhiều so với chích xơ giãn tĩnh mạch thực quản. Khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam đã khai triển và thực hành thuần thục kỹ thuật này, cứu sống được nhiều bệnh nhân, đặc biệt trong các tình trạng cấp cứu nặng cần kết hợp đa chuyên khoa.

Để phòng ngừa xơ gan cũng như các biến chứng của xơ gan như xuất huyết tiêu hóa, bác sĩ Thương khuyến cáo mọi người nên tránh xa rượu bia, tiêm phòng viêm gan B cho trẻ em và người lớn chưa bị viêm gan B, tránh ăn thức ăn sống, nên ăn chín uống chín để không bị nhiễm ký sinh trùng…

Bên cạnh đó, cần kiểm tra sức khỏe định kỳ. Đối với bệnh nhân đã xơ gan nên thực hành nội soi tiêu hóa định kì để phát hiện sớm các búi giãn tĩnh mạch thực quản. Bệnh nhân xơ gan khi có dấu hiệu nôn ra máu, đi ngoài phân đen, máu đỏ tươi cần đến bệnh viện ngay để được cấp cứu kịp thời, tránh hiểm nguy đến tính mệnh.



Click: Xem thêm

Bo Y te chot 2 loai vac xin Covid 19 duoc tiem

Bộ Y tế chốt 2 loại vắc-xin Covid-19 được tiêm cho trẻ từ 5 đến dưới 1…

Chiều 31-3, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị tập huấn tiêm vắc-xin Covid-19 cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi. Hội nghị kết nối đến 700 điểm cầu trên toàn quốc.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn nhấn mạnh đến nay cả nước đã tiêm trên 206 triệu liều vắc-xin Covid-19, trong đó tỉ lệ tiêm mũi 1 với nhóm trên 18 tuổi là 100%; mũi 2 là 99%; đối với trẻ từ 12-17 tuổi, hiện tỉ lệ tiêm mũi 1 và mũi 2 tương ứng là 99% và 94%.

Bộ Y tế chốt 2 loại vắc-xin Covid-19 được tiêm cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi - Ảnh 1.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn đánh giá việc tiêm vắc-xin cho nhóm trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi rất xung yếu – Ảnh: Trần Minh

Thứ trưởng Bộ Y tế cũng cho biết đối với nhóm đối tượng trên 18 tuổi, việc tiêm liều nhắc lại đã được Bộ Y tế khai triển từ tháng 12-2021, hiện khoảng trên 50% người đã tiêm liều nhắc lại. Riêng nhóm đối tượng nguy cơ, khoảng 64% người từ 18 tuổi trở lên có nhân tố nguy cơ đã được tiêm liều bổ sung.

Về tiêm vắc-xin cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi, Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn cho biết Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 14 về việc mua vắc-xin để tiêm cho nhóm trẻ này. Bộ Y tế cũng đã chỉ đạo các cơ quan làm việc rất cẩn trọng, từng bước, khoa học và khách quan trên cơ sở tham khảo chương trình tiêm chủng của các nước; các khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) để đảm bảo tiêm chủng phải an toàn.

“Dù trẻ ở lứa tuổi này mắc Covid-19 phần lớn đều nhẹ nhưng cũng liên quan khi các cháu ốm, phụ huynh cũng phải nghỉ chăm sóc, các cháu liên quan cũng phải nghỉ để tiếp tục học trực tuyến… tạo gánh nặng lên xã hội. Ngoài ra, các biến chứng khi mắc Covid-19 ở nhóm này thông qua báo cáo của các chuyên gia nghiên cứu số liệu quốc tế cũng như trong nước cho thấy cũng có liên quan sức khỏe, tính mệnh của các cháu, dù không nhiều nhưng cũng là đáng lo ngại là biến chứng viêm cơ tim, Hội chứng viêm đa hệ thống ở trẻ em (MIS-C). Đây là biến chứng hệ thống khám chữa bệnh đã ghi nhận…”- ông Sơn nhấn mạnh.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn, thời gian qua Bộ Y tế đã họp Hội đồng tham vấn sử dụng vắc-xin về việc tiêm chủng cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi; tham vấn các ý kiến của WHO về khuyến cáo chính thức cho Việt Nam về tiêm chủng cho trẻ trong lứa tuổi này; Bộ Y tế đã kết hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương khảo sát, thăm dò ý kiến của người dân về việc tiêm cho trẻ…

Để chuẩn bị tiêm vắc-xin Covid-19 cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi, Bộ Y tế đã chỉ dẫn các tỉnh, thành phố về việc tiêm vắc-xin cho trẻ ở độ tuổi này, đồng thời đề xuất địa phương, đơn vị khẩn trương sẵn sàng nhân lực và cơ sở vật chất, chuẩn bị đủ điều kiện tiêm chủng để có thể đưa vắc-xin vào sử dụng ngay sau khi tiếp thu vắc-xin.

“Bộ Y tế xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2022. Tiêm chủng cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi để bảo vệ sức khỏe trẻ em và giúp trẻ em được đi học, vui chơi, bố mẹ yên tâm làm việc trong điều kiện nước ta mở cửa, phục hồi và phát triển kinh tế, xã hội”- Thứ trưởng Sơn nhấn mạnh.

Không tiêm trộn 2 loại vắc-xin cho trẻ

Tại hội nghị tập huấn, PGS-TS Dương Thị Hồng, Phó viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, cho biết đầu tháng 4-2022, ngay sau khi vắc-xin Covid-19 được cung ứng, toàn bộ 63 tỉnh, thành phố cả nước sẽ khai triển tiêm cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi .

Theo đó, vắc-xin Pfizer chỉ định cho người 5 đến dưới 12 tuổi. Liều lượng đường dùng: tiêm bắp, liều tiêm 0,2 ml. Lịch tiêm: 2 mũi cách nhau 4 tuần.

Bộ Y tế chốt 2 loại vắc-xin Covid-19 được tiêm cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi - Ảnh 2.

Các điềm cầu tham gia hội nghị tập huấn chiều 31-3. Ảnh: Trần Minh

Vắc-xin Spikevax (Moderna Covid-19 vắc-xin) được Bộ Y tế phê chuẩn có điều kiện sử dụng cho trẻ em từ 6 – dưới 12 tuổi cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19 . Tiêm liều tiêm bằng 1/2 liều cơ bản của người lớn (tương đương 0,25 ml), giống như tiêm vắc-xin cho người lớn liều nhắc lại. Tiêm 2 mũi cách nhau 4 tuần.

Cũng theo bà Hồng, về phương thức khai triển, Bộ Y tế yêu cầu chiến dịch tiêm chủng diễn ra tại trường học và các cơ sở tiêm chủng cố định, tiêm lưu động.

“khai triển trước cho nhóm tuổi lớn, từ 11 tuổi, tức trẻ học lớp 6, sau đó hạ thấp dần độ tuổi. Các địa phương khai triển cuốn chiếu theo trường, địa bàn căn cứ vào tình hình dịch và số lượng vắc-xin được cung ứng”- PGS Hồng nhấn mạnh.

Về phản ứng sau tiêm chủng, bà Hồng cho biết theo kinh nghiệm học hỏi từ thế giới và các đồng nghiệp, những phản ứng trầm trọng, bất thường sau tiêm ở trẻ 5 đến dưới 12 tuổi ít hơn so với trẻ từ 12 tuổi trở lên.

Các phản ứng nặng càng ít gặp hơn, tuy nhiên, lãnh đạo Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương nhấn mạnh các địa phương không được chủ quan. Trong 3 ngày đầu sau khi tiêm, trẻ nhỏ cần có người hỗ trợ suốt 24/24 giờ, tránh vận động mạnh.

PGS Dương Thị Hồng cho biết có 2 loại vắc-xin Covid-19 tiêm cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi, gồm vắc-xin Pfizer và vắc-xin Moderna. Không giống như người từ 18 tuổi trở lên, với trẻ nhóm trẻ này Bộ Y tế yêu cầu chỉ tiêm 2 mũi cùng loại vắc-xin, không tiêm trộn với bất kỳ vắc-xin mRNA nào.

Bộ Y tế chốt 2 loại vắc-xin Covid-19 được tiêm cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi - Ảnh 4.



Click: Xem thêm

7 tien bo y khoa dot pha giup cuu song

7 tiến bộ y khoa đột phá giúp cứu sống hàng triệu người-Sức khỏe đời s…

Thứ Sáu, ngày 01/04/2022 01:00 AM (GMT+7)

Mỗi khám phá y khoa mang tính cách mệnh lại giúp chúng ta pháp triển các loại thuốc và cách thức điều trị các loại bệnh phức tạp, cứu sống hàng triệu người.

1. Vắc-xin (1796)

Rất khó để xác định khi nào vắc-xin được chính thức chấp thuận, chính yếu là vì hành trình khám phá rất dài và phức tạp của nó. khởi đầu với nỗ lực của Edward Jenner vào năm 1796, ông sử dụng chất cấy để chế ngự vi rút đậu mùa khét tiếng, chính từ đây tính hữu dụng và phổ biến của vắc-xin đã phát triển rất nhanh chóng.


7 tiến bộ y khoa đột phá giúp cứu sống hàng triệu người - 1

Trong suốt những năm 1800 và đầu những năm 1900, nhiều loại vắc-xin khác nhau đã được tạo ra để chống lại một số căn bệnh hiểm nguy nhất trên thế giới, bao gồm bệnh đậu mùa, bệnh dại, bệnh lao và bệnh tả. Trong suốt 200 năm, một trong những căn bệnh hiểm nguy nhất đối với con người – bệnh đậu mùa – đã bị xóa sổ trên địa cầu. Kể từ đó, hầu như tất cả các loại vắc-xin đều hoạt động theo cùng một cách thức.

Cho đến khi một công nghệ mới được gọi là  mRNA ra đời và tạo ra khả năng thay đổi tương lai của ngành chăm sóc sức khỏe. Hiệu quả cao, khả năng phát triển nhanh và tổn phí sản xuất thấp đã thể hiện rõ trong đại dịch Covid-19, hai  loại vắc-xin mRNA biệt lập đã được phát triển và chấp thuận sử dụng chỉ trong vài tháng. 

2. Lý thuyết mầm (1861)

7 tiến bộ y khoa đột phá giúp cứu sống hàng triệu người - 2

Trước khi lý thuyết ‘mầm bệnh’ ra đời, nhiều người tin rằng bệnh tật là do ‘thế hệ tự phát’ gây ra. Nói cách khác, các bác sĩ thời đó nghĩ rằng bệnh có thể xuất hiện từ không khí, chứ không phải lây qua đường thở hoặc tiếp xúc qua da. Năm 1861, nhà vi trùng học người Pháp Louis Pasteur đã chứng minh qua một thí nghiệm đơn giản rằng, bệnh lây nhiễm là kết quả của sự xâm nhập của các sinh vật cực nhỏ – còn được gọi là mầm bệnh – vào vật chủ sống. Phát hiện này đã đánh dấu một bước ngoặt xung yếu trong cách thức điều trị, kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, giúp ngăn chặn những dịch bệnh thảm khốc gây ra cái chết cho hàng nghìn người mỗi năm, chẳng hạn như bệnh dịch hạch, bệnh kiết lỵ và bệnh sốt thương hàn. 

3. Chẩn đoán hình ảnh (1895)

Tia X, một dạng bức xạ điện từ, được nhà vật lý người Đức Wilhelm Conrad Rӧntgen ‘tình cờ phát minh’ vào năm 1895 khi thí nghiệm với dòng điện qua ống tia âm cực bằng thủy tinh. Khám phá này đã biến đổi y khoa chỉ trong một đêm và đến năm sau, bệnh viện Glasgow đã mở khoa X quang đầu tiên trên thế giới.

7 tiến bộ y khoa đột phá giúp cứu sống hàng triệu người - 4

Đối với siêu âm, mặc dầu được phát hiện ban sơ từ nhiều năm trước, nhưng chúng khởi đầu được sử dụng để chẩn đoán y tế vào năm 1955. Thiết bị hình ảnh y tế này sử dụng sóng âm tần số cao để tạo ra hình ảnh kỹ thuật số và phát hiện tình trạng trước khi sinh và các bất thường vùng chậu và ổ bụng khác. Năm 1967, máy chụp cắt lớp vi tính (CT) ra đời, sử dụng máy dò tia X và máy tính để chẩn đoán nhiều loại bệnh khác nhau, và đã trở nên một công cụ chẩn đoán cơ bản trong y khoa hiện đại.

Công nghệ hình ảnh y tế xung yếu tiếp theo được phát hiện vào năm 1973 khi Paul Lauterbur tạo ra hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) đầu tiên. Dữ liệu cộng hưởng từ hạt nhân tạo ra hình ảnh chi tiết bên trong thân thể và là một công cụ xung yếu trong việc phát hiện các tình trạng đe dọa tính mệnh bao gồm khối u, u nang, thương tổn não và tủy sống và một số vấn đề về tim và gan.

4. Cấy ghép nội tạng (1954)

7 tiến bộ y khoa đột phá giúp cứu sống hàng triệu người - 5

Vào tháng 12 năm 1954, ca ghép thận thành công đầu tiên được tiến hành bởi Tiến sĩ Joseph Murray và Tiến sĩ David Hume tại Boston, Hoa Kỳ. Bất chấp nhiều nỗ lực trước đó trong lịch sử, đây là trường hợp đầu tiên người được ghép tạng sống sót sau ca phẫu thuật. Bước ngoặt xảy ra khi các vấn đề kỹ thuật khác nhau được khắc phục, chẳng hạn như nối mạch máu (kết nối giữa hai mạch máu), vị trí của thận và phản ứng miễn dịch. Năm 1963, ca ghép phổi đầu tiên được thực hành, tiếp theo là tuyến tụy / thận vào năm 1966, gan và tim vào năm 1967. Bên cạnh việc cứu sống hàng nghìn người, trong những năm sau đó, các thủ tục cấy ghép cũng ngày càng trở nên đổi mới và phức tạp. Thậm chí các bác sĩ còn hoàn thành ca ghép tay đầu tiên vào năm 1998 và ca ghép toàn bộ khuôn mặt vào năm 2010.

5. Liệu pháp tế bào gốc (1970)

7 tiến bộ y khoa đột phá giúp cứu sống hàng triệu người - 6

Tiềm năng đáng ngạc nhiên của tế bào gốc được phát hiện vào cuối những năm 1970, khi chúng được tìm thấy bên trong máu cuống rốn của con người. Hai đặc điểm cụ thể khiến tế bào gốc trở nên đáng lưu ý: chúng là những tế bào không chuyên biệt có thể tự đổi mới thông qua quá trình phân chia tế bào ngay cả sau khi không hoạt động và trong những điều kiện nhất thiết có thể được sử dụng để tạo ra bất kỳ loại tế bào nào của con người. Khám phá này có tiềm năng to lớn và liệu pháp tế bào gốc đã được sử dụng để điều trị bệnh bạch huyết cầu và các rối loạn máu khác, cũng như trong cấy ghép tủy xương. Nghiên cứu hiện đang được tiến hành để sử dụng tế bào gốc để điều trị các chấn thương tủy sống và một số bệnh thần kinh như Alzheimer, Parkinson và đột quỵ. Tuy nhiên, do các vấn đề đạo đức xung quanh việc  sử dụng tế bào gốc phôi, các nhà nghiên cứu có khả năng gặp nhiều trở ngại khi phát triển liệu pháp dựa trên tế bào gốc.

6. Liệu pháp miễn dịch (1970)

7 tiến bộ y khoa đột phá giúp cứu sống hàng triệu người - 7

Liệu pháp miễn dịch, một cách thức điều trị kích thích hệ thống miễn dịch chống lại bệnh tật đã được tạo ra trong hơn một thế kỷ. Câu chuyện khởi đầu vào những năm 1890 với công trình thí nghiệm của William B. Coley, người đã tiêm vi khuẩn không hoạt động vào các khối u ung thư, làm thuyên giảm tình trạng bệnh của một số bệnh nhân. Tuy nhiên, chỉ trong 40 năm qua, liệu pháp miễn dịch đã đạt được tiến bộ xung yếu, đặc biệt là trong điều trị ung thư. Trong những năm 1970,  các liệu pháp kháng thể đã được phát triển và vào năm 1991, các nhà nghiên cứu đã sản xuất vắc-xin ung thư đầu tiên được FDA chấp thuận vào năm 2010. Trong thập kỷ qua, ung thư miễn dịch đã trở nên một trong những liệu pháp điều trị ung thư mang tính cách mệnh nhất hiện nay.

7. Trí tuệ nhân tạo (Thế kỉ 21)

7 tiến bộ y khoa đột phá giúp cứu sống hàng triệu người - 8

 Được phát triển dần dần kể từ đầu thế kỷ này,  trí tuệ nhân tạo đã tạo ra những công nghệ ấn tượng làm thay đổi đáng kể bối cảnh chăm sóc sức khỏe. Các tổ chức khoa học đời sống và các tổ chức nghiên cứu đang hợp tác với những gã đồ sộ công nghệ đi đầu như Google, IBM và Apple để phát minh ra những cách thông minh hơn và nhanh hơn để ứng phó với bệnh tật. Những công nghệ tiên tiến này bao gồm các công cụ chẩn đoán có thể phát hiện các khối u ác tính không nhìn thấy bằng mắt thường, đến các hệ thống điện toán nhận thức tạo ra các kế hoạch điều trị thích hợp cho bệnh nhân ung thư. Tiềm năng của trí tuệ nhân tạo trong việc phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh tật đang nhanh chóng mở ra trước mắt chúng ta và có vẻ sẽ làm thay đổi tương lai theo hướng hăng hái.

Nguồn: https://baogiaothong.vn/7-tien-bo-y-khoa-dot-pha-giup-cuu-song-hang-trieu-nguoi-d547620.html

7 loại thuốc được xem là những phát minh vĩ đại nhất của ngành y tế

Những tiến bộ trong quá trình phát triển các loại thuốc không chỉ cứu mạng hàng triệu người mà còn định hình được tương lai của ngành y tế.

Click: Xem thêm

Tin COVID 19 chieu 31 3 Ca nuoc giam gan 5000 ca

Tin COVID-19 chiều 31-3: Cả nước giảm gần 5.000 ca mắc COVID-19, TP.HC…

Tin COVID-19 chiều 31-3: Cả nước giảm gần 5.000 ca mắc COVID-19, TP.HCM dưới 1.000 ca - Ảnh 1.

Trẻ được phụ huynh đưa đến khám tại Bệnh viện Nhi đồng 2, TP.HCM khi có thể hiện nóng, sốt – Ảnh: DUYÊN PHAN

Tính từ 16h ngày 30-3 đến 16h ngày 31-3, trên Hệ thống Quốc gia quản lý ca bệnh COVID-19 ghi nhận 80.838 ca nhiễm mới, trong đó 11 ca nhập cảnh và 80.827 ca ghi nhận trong nước (giảm 4.932 ca so với ngày trước đó) tại 62 tỉnh, thành phố, có 56.105 ca trong cộng đồng.

Các tỉnh, thành phố ghi nhận ca bệnh như sau: Hà Nội (8.054), Phú Thọ (3.415), Nghệ An (3.399), Yên Bái (3.156), Đắk Lắk (3.107), Lào Cai (2.981), Hải Dương (2.864), Bắc Giang (2.688), Quảng Ninh (2.509), Quảng Bình (2.352), Hà Giang (2.344), Lạng Sơn (2.159), Vĩnh Phúc (2.039), Thái Bình (1.966), Bắc Kạn (1.917), 

Sơn La (1.813), Hưng Yên (1.784), Tuyên Quang (1.672), Bắc Ninh (1.653), Vĩnh Long (1.642), Cao Bằng (1.630), Bình Định (1.437), Quảng Trị (1.369), Cà Mau (1.265), Lâm Đồng (1.264), Hà Nam (1.258), Tây Ninh (1.238), Thái Nguyên (1.179), Điện Biên (1.164), Hòa Bình (1.160), Lai Châu (1.097), Ninh Bình (1.046), TP.HCM (924)

Quảng Ngãi (920), Bến Tre (876), Bình Dương (827), Bình Phước (766), Hà Tĩnh (757), Đà Nẵng (736), Bà Rịa – Vũng Tàu (688), Nam Định (672), Thừa Thiên Huế (589), Trà Vinh (539), Thanh Hóa (535), Đắk Nông (426), Phú Yên (408), Khánh Hòa (386), 

Hải Phòng (365), Bình Thuận (341), Quảng Nam (270), Kon Tum (179), An Giang (178), Bạc Liêu (166), Kiên Giang (161), Long An (125), Cần Thơ (101), Đồng Nai (97), Đồng Tháp (85), Sóc Trăng (52), Ninh Thuận (20), Hậu Giang (12), Tiền Giang (5).

Tin COVID-19 chiều 31-3: Cả nước giảm gần 5.000 ca mắc COVID-19, TP.HCM dưới 1.000 ca - Ảnh 2.

Đồ họa: NGỌC THÀNH

Ngày 31-3, Sở Y tế Hưng Yên đăng ký bổ sung 11.517 ca trên Hệ thống Quốc gia quản lý ca bệnh COVID-19 sau khi rà soát, bổ sung đầy đủ thông tin.

Các địa phương ghi nhận số ca nhiễm giảm nhiều nhất so với ngày trước đó: Bắc Giang (-1.311), Lạng Sơn (-466), Bình Dương (-383).

Các địa phương ghi nhận số ca nhiễm tăng cao nhất so với ngày trước đó: Hải Dương (+1.081), Vĩnh Long (+188), Quảng Ngãi (+154).

Trung bình số ca nhiễm mới trong nước ghi nhận trong 7 ngày qua: 91.762 ca/ngày.

Số khỏi bệnh gấp 3 lần số mắc mới

Kể từ đầu dịch đến nay Việt Nam có 9.564.609 ca nhiễm, đứng thứ 12/227 quốc gia và vùng bờ cõi, trong khi với tỉ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 110/227 quốc gia và vùng bờ cõi (bình quân cứ 1 triệu người có 96.747 ca nhiễm).

Đợt dịch thứ 4 (từ ngày 27-4-2021 đến nay): Số ca nhiễm ghi nhận trong nước là 9.556.876 ca, trong đó có 7.516.196 bệnh nhân đã được công bố khỏi bệnh.

Các địa phương ghi nhận số nhiễm tích lũy cao trong đợt dịch này: Hà Nội (1.474.782), TP.HCM (594.585), Nghệ An (391.871), Bình Dương (376.566), Hải Dương (344.058).

– Bệnh nhân được công bố khỏi bệnh trong ngày: 250.482 ca, gấp 3 lần số mắc mới.

Tin COVID-19 chiều 31-3: Cả nước giảm gần 5.000 ca mắc COVID-19, TP.HCM dưới 1.000 ca - Ảnh 3.

Đồ họa: NGỌC THÀNH

Tổng số ca được điều trị khỏi cho đến nay là 7.519.013 ca.

Số bệnh nhân nặng đang điều trị là 2.975 ca. Trong đó, thở oxy qua mặt nạ: 2.379 ca; Thở oxy dòng cao HFNC: 281 ca; Thở máy không xâm lấn: 99 ca; Thở máy xâm lấn: 216 ca; ECMO: 0 ca.

Hà Nội ca mắc cao nhất nhưng không ghi nhận ca tử vong

Từ 17h30 ngày 30-3 đến 17h30 ngày 31-3 ghi nhận 39 ca tử vong tại: Bến Tre (5), Bình Thuận (4), Cao Bằng (4 ca trong 2 ngày), Phú Yên (4), Bạc Liêu (2), Đắk Lắk (2), Lâm Đồng (2), Quảng Ninh (2), Sóc Trăng (2), Vĩnh Long (2), 

Bà Rịa – Vũng Tàu (1), Cà Mau (1), Gia Lai (1), Hà Nam (1), Hà Tĩnh (1), Hậu Giang (1), Lạng Sơn (1), Quảng Ngãi (1), Tây Ninh (1), TP.HCM (1).

Trung bình số tử vong ghi nhận trong 7 ngày qua: 50 ca.

Tổng số ca tử vong do COVID-19 tại Việt Nam tính đến nay là 42.493 ca, chiếm tỉ lệ 0,4% so với tổng số ca nhiễm.

Click: Xem thêm

1648723324 Khi nao can kham hau Covid 19

Khi nào cần khám hậu Covid-19?

Em gái tôi mắc Covid-19 sau 8 ngày vẫn chưa khỏi. Xin hỏi bác sĩ, khi nào em tôi khỏi bệnh và nên khám hậu Covid-19 lúc nào? (Phạm Lan, 32 tuổi)

Chào bạn! Có 3 vấn đề ở đây cần hiểu rõ:

– Việc âm tính của mỗi người mỗi khác, phần đa sau tiêm 3 mũi vaccine sẽ âm tính sau 7-10 ngày, một số người có thể kéo dài hơn tuỳ cơ địa. Tuy nhiên, nếu tiêm đủ từ 2 mũi vaccine trở lên, sau 10 ngày bệnh nhân vẫn dương tính SARS-CoV-2 cũng không có khả năng lây nhiễm và được bỏ cách ly (theo quy định của Bộ Y tế).

– Về vấn đề sử dụng thuốc kháng virus, người bệnh nên dùng, đặc biệt người dễ nhìn tổn như tuổi cao, bệnh nền, béo phì… Thuốc chỉ chống chỉ định với người dưới 18 tuổi, có thai hoặc cho con bú, suy gan, suy thận…

Phụ nữ không mang thai và cho con bú trong thời gian sử dụng thuốc Molnupiravir hoặc trong vòng 100 ngày kể từ ngày cuối cùng sử dụng thuốc này. Đối với nam, vận dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả trong vòng 100 ngày kể từ ngày cuối cùng sử dụng thuốc.

– Về vấn đề khám hậu Covid-19, giai đoạn này được định tức là xuất hiện sau ít ra 4 tuần người bệnh mắc Covid-19. Không phải 100% người mắc Covid-19 đều phải đi khám hậu Covid-19, chỉ đi khám khi có các bất thường kéo dài và khám đúng chuyên khoa liên quan đến các triệu chứng đó. Ví dụ, bệnh nhân ho nên đến bệnh viện chuyên khoa hô hấp hoặc đa khoa để khám.

Ngoài ra, hội chứng hậu Covid-19 chẳng thể giảng giải bằng chẩn đoán thay thế. Các triệu chứng phổ biến thường kéo dài 2 – 6 tháng, gồm: mỏi mệt, khó thở, ho, rối loạn nhận thức…

Vì vậy, khi em gái bạn đã khỏi bệnh sau ít ra 4 tuần, nếu vẫn còn những triệu chứng kéo dài mới nên khám hậu Covid-19.

Bác sĩ Lê Hữu Thìn
Khoa Hồi sức hăng hái, Bệnh viện Phổi Trung ương

Click: Xem thêm