Mang luoi che dau co vat trong giay to Pandora

Mạng lưới che dấu cổ vật trong giấy tờ Pandora

Nhiều cổ vật bị đánh cắp được hợp pháp hóa hay che dấu qua các quỹ tín thác hoặc đơn vị bình phong, khiến thu hồi chúng trở nên một thách thức lớn.

Suốt hàng thập kỷ, Douglas Latchford khoác lên mình một vẻ bề ngoài đĩnh đạc, đáng ngưỡng mộ: Một nhà thám hiểm người Anh dành say mê bất tận cho những ngôi đền trong rừng rậm, một học giả với thông suốt sâu sắc về những chi tiết tinh xảo của các tác phẩm điêu khắc cổ đại.

Đáp trực thăng tới những khu vực hẻo lánh của Campuchia để thám hiểm các thành phố cổ của Đế quốc Khmer, Latchford liều lĩnh vượt qua những bãi mìn để thỏa mãn trí tò mò của mình. khởi đầu hành trình từ những năm 1970, Latchford đã tích lũy được một trong những bộ sưu tập tư nhân lớn nhất thế giới cổ vật Khmer, cốt yếu là những tác phẩm điêu khắc Ấn Độ giáo và Hồi giáo, phần còn lại của nền văn minh từng phát triển mạnh mẽ ở Đông Nam Á 1.000 năm trước. Latchford cũng là đồng tác giả ba cuốn sách về chủ đề này.

Bức tượng Avalokiteshvara từ thế kỷ XII, từng thuộc sở hữu của Douglas Latchford, được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan ở New York, Mỹ, hồi tháng 5. Ảnh: Washington Post.

Bức tượng Avalokiteshvara từ thế kỷ XII, từng thuộc sở hữu của Douglas Latchford, được trưng bày tại bảo tồn Nghệ thuật Metropolitan ở New York, Mỹ, hồi tháng 5. Ảnh: Washington Post.

“Các tác phẩm điêu khắc và kiến trúc do người Khmer tạo ra để tôn vinh những vị thần và đấng cai trị của họ là một trong những tuyệt tác nghệ thuật tuyệt nhất thế giới”, Latchford viết trong cuốn sách với tựa đề “Sự tôn thờ và Vinh quang”.

Dù đưa ra những tuyên bố đầy tôn kính đối với các thành tựu của người Khmer, Latchford cũng buôn bán và kiếm lời từ những cổ vật lấy được từ những ngôi đền thiêng liêng của nền văn minh đó, theo các công tố viên Mỹ.

Khi Mỹ truy tố Latchford vào năm 2019, tưởng như hàng trăm món cổ vật bị đánh cắp mà người đàn ông này đã giao dịch sẽ được xác định và trả lại nơi nó thuộc về. Các công tố viên yêu cầu tịch thu “mọi tài sản” từ việc buôn bán phạm pháp cổ vật của Latchford trong hơn 4 thập kỷ. Nhưng Latchford, 88 tuổi, đã chết trước khi xét xử, để lại một câu hỏi chưa có lời giải đáp: Điều gì đã xảy ra với tất cả số tiền và cổ vật ông nắm giữ?

Một phần câu giải đáp có trong những giấy tờ chưa từng được hé lộ về các đơn vị bí mật và quỹ tín thác mà Latchford và gia đình kiểm soát. Các thông tin trên nằm trong giấy tờ Pandora, gồm hơn 11,9 triệu tài liệu được Hiệp hội các Nhà báo Điều tra Quốc tế (ICIJ) công bố hôm 3/10, tiết lộ những giao dịch tài chính ở nước ngoài của hàng trăm người thuộc giới tinh hoa toàn cầu, bao gồm hơn 330 chính trị gia từ gần 100 nước, nhiều người nổi tiếng và lãnh đạo tôn giáo.

Những giấy tờ đăng ký mở đơn vị và quỹ tín thác mà ICIJ có được cho thấy ba tháng sau khi các nhà điều tra Mỹ khởi đầu xác định Latchford có liên quan dến những cổ vật bị đánh cắp, ông và gia đình đã thành lập hai quỹ tín thác đầu tiên tại đảo Jersey, một thiên đàng giấu tài sản bí mật ở Quần đảo Eo biển nằm giữa Anh và Pháp. Hai quỹ này lấy tên theo hai vị thần Ấn Độ giáo là Skanda và Siva.

Quỹ Skanda quản lý bộ sưu tập cổ vật của Latchford. Trong số đó có những bức tượng Phật bằng đồng, tượng Quan Thế Âm cùng các nhân vật tôn giáo khác. Đáng lưu ý là bức tượng Phật ngồi trong tòa rắn Naga bị đánh cắp trị giá 1,5 triệu USD. Tài sản của Latchford trong Quỹ Skanda sau đó được chuyển cho Quỹ Siva.

Các thành viên gia đình Latchford cho biết các quỹ trên được thành lập cho mục tiêu thuế và lập kế hoạch di sản, nhưng chúng đã gây ra không ít khó khăn cho các nhà điều tra trong nỗ lực truy tìm và đưa những cổ vật Latchford có thể đã đánh cắp về lại vị trí ban sơ.

Giới chức Campuchia cho hay họ không biết Quỹ Skanda giữ những món đồ gì và họ chưa bao giờ nghe đến Quỹ Siva. Họ coi việc đưa các cổ vật Khmer khỏi đất nước khi chưa được phép là hành động trộm cắp và muốn thu hồi chúng. Campuchia đã thành lập một đội chuyên trách để săn lùng hàng nghìn món cổ vật như vậy.

“Chúng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ nỗ lực lấy lại các di sản của mình”, Bộ trưởng Văn hóa và Nghệ thuật Campuchia Phoeurng Sackona tuyên bố. “Những món đồ đó không chỉ là đồ trang trí mà chúng còn mang vong linh. Mất đi chúng giống như mất đi vong linh của tổ tiên chúng tôi vậy”.

Nhà sưu tầm cổ vật Khmer người Anh

Douglas Latchford (phải) bắt tay cố phó thủ tướng Campuchia Sok An tại bảo tồn Quốc gia Campuchia ở Phnom Penh ngày 12/6/2009. Ảnh: AFP.

Latchford sinh ra ở Mumbai, Ấn Độ, vào năm 1931, có cha là một viên chức nhà băng người Anh. Khi giải đáp các cuộc phỏng vấn, Latchford không ít lần chia sẻ rằng ông bị cuốn hút bởi câu chuyện về những ngôi đền bỏ hoang trong cuốn sách “Câu chuyện Rừng xanh” (The Jungle Book) của Rudyard Kipling.

Năm 20 tuổi, Latchford chuyển đến thủ đô Bangkok, Thái Lan, nơi ông thành lập một đơn vị sản xuất, phân phối dược phẩm và khởi đầu đầu tư vào đất đai. Về sau Latchford khẳng định hoạt động mua bán này là nguồn thu nhập chính của ông.

Latchford cũng có niềm say mê với thể hình, ông mở phòng gym và hỗ trợ huấn luyện các nhà vô địch thể hình từ Thái Lan và Campuchia. Ông là khách quen trong các bữa tiệc xa hoa của giới tinh hoa ở Bangkok.

Tuy nhiên, niềm say mê lớn nhất của Latchford lại nằm ở nơi khác. Lần đầu tiên Latchford mua một món cổ vật Khmer là khi ông 26 tuổi: Bức tượng bán thân phụ nữ bằng sa thạch có giá 700 USD. Bức tượng không có chân hay tay nhưng Latchford bị mê hoặc, ông cho biết trong một cuộc phỏng vấn với tờ Bangkok Post.

Từ đây, cổ vật trở nên niềm say mê trọn đời của Latchford. Cùng với Emma C. Bunker, giáo sư về lịch sử nghệ thuật châu Á, ông đã viết ba cuốn sách về cổ vật Khmer. Các tổ chức và phòng trưng bày nghệ thuật nổi tiếng thường gọi ông để thẩm định những món đồ cổ của người Khmer. Latchford cũng tặng không ít cổ vật cho các viện bảo tồn trên khắp thế giới và ông không khỏi kiêu hãnh khi từng bán cổ vật cho nhà Rockefeller, một trong những gia tộc giàu có nhất hành tinh.

Năm 2008, Latchford được phó thủ tướng Campuchia phong tước tương đương hiệp sĩ vì những đóng góp của ông cho bảo tồn quốc gia nước này.

Các tác phẩm nghệ thuật Khmer, niềm say mê bất tận của Latchford, cũng là những món hàng được săn lùng với giá cao trên “chợ đen” cổ vật.

khởi đầu từ những năm 1970, trong bối cảnh hỗn loạn của cuộc nội chiến và chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia, các khu đền thờ của Đế quốc Khmer, bao gồm ba ngôi đền được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, trở nên mồi ngon cho những kẻ săn lùng, trộm cắp cổ vật. Nạn trộm cắp thậm chí còn kéo dài tới những năm 2010.

Mục tiêu bị nhắm tới nhiều là thành cổ Koh Ker, với 76 ngôi đền, vô số tượng và một kim tự tháp cao 7 tầng. Những bức tượng của Koh Ker rất đặc sắc và mang tính cách mệnh đối với niên đại của họ, khi các chi tiết được tạo tác rất tỉ mỉ.

Trước năm 1965, khu đền thờ hoàn toàn chẳng thể tiếp cận nhưng sau đó một con đường được xây dựng, mang lại lợi ích cho người dân địa phương nhưng cũng khiến những kẻ cướp bóc dễ dàng tới đây hơn.

Các cổ vật bị các nhóm vũ trang và dân làng Campuchia đói nghèo bán với giá rẻ, trong khi những món hàng đó có trị giá hàng triệu USD ở phương Tây.

Một kẻ trộm đồ cổ cho hay anh ta từng đổi một bức tượng lớn thần voi Ganesha trong đạo Hindu lấy một con trâu nước, bán một bức tượng nửa người nửa chim bằng sa thạch với giá 500 USD cùng một tượng thần Skanda ngồi trên con công giá 600 USD.

Cái tên Latchford xuất hiện trong hàng loạt vụ mua bán cổ vật phạm pháp và theo các công tố viên, ông đã dấn thân vào con đường này từ đầu những năm 1970 cho đến chí ít là năm 2010.

Cả ba cổ vật bị trộm từ Koh Ker, gồm tượng Ganesha, bức tượng nửa người nửa chim và tượng thần Skanda, đều nằm trong bộ sưu tập của Latchford. Theo các tài liệu của tòa án Mỹ, Latchford đã bán bức tượng thần Skanda cưỡi công với giá 1,5 triệu USD cho một nhà sưu tầm cá nhân. Ba món đồ trên cũng được giới thiệu trong một cuốn sách của Latchford. Đây là cách mà ông sử dụng để hợp thức hóa các cổ vật và dễ dàng bán chúng hơn, các công tố viên Mỹ cho hay.

Theo các email mà công tố viên thu được, Latchford dường như có mối liên hệ với hàng loạt mạng lưới tội phạm chuyên vơ vét tại những ngôi đền cổ. Trong một email gửi từ Bangkok đến một tay buôn ở Manhattan, Mỹ, Latchford đã chia sẻ sự thích thú của mình với một bức tượng Phật được tìm thấy ở Campuchia. Bức ảnh đính kèm cho thấy nó vẫn còn dính đầy bụi bẩn.

“Đừng choáng nhé, tôi vừa được mời mua bức tượng Phật từ Angkor Borei này, mới được khai quật, thật xuất sắc. Nó vẫn ở bên kia biên cương, nhưng quá tuyệt”, Latchford viết trong email.

Tuy nhiên, những thông tin này không được biết đến rộng rãi cho đến khi Latchford bị vạch trần vào năm 2011, khi ông đã 80 tuổi, do phát hiện của một nhà khảo cổ học Pháp.

Khi đó, một bức tượng từ thế kỷ X chuẩn bị được hãng Sotheby’s đưa lên đấu giá tại New York. Được đặt tên là “Vận khích lệ”, tác phẩm mô tả một nhân vật đồ sộ, trang trí bằng đồ trang sức chạm khắc và một chiếc mũ đội đầu hình nón tinh xảo, đang nhảy lên không trung.

Nhà đấu giá quảng cáo bức tượng là “một tuyệt tác tuyệt vời của nghệ thuật Khmer” và ước tính nó có giá trị lên tới 2-3 triệu USD.

Thông qua quảng cáo của Sotheby’s cùng các nguồn khác, nhà khảo cổ học Éric Bourdonneau đã tìm ra chứng cớ rõ ràng cho thấy bức tượng này đã bị đánh cắp: Chân của bức tượng bị khuyết một phần, hoàn toàn thích hợp với chân tượng bị những kẻ trộm cổ vật để lại trên bệ tại Koh Ker. Ông xác định bức tượng là Duryodhana, nhân vật chính trong bộ 9 bức tượng mô tả cảnh tranh đấu đỉnh cao trong bài thơ sử thi Mahabharata của Ấn Độ giáo.

Biết rằng bức tượng có thể đã bị đánh cắp, phó thủ tướng Campuchia đã liên lạc với chính quyền Mỹ để ngăn cuộc đấu giá chỉ vài tiếng trước khi nó khởi đầu. Sự kiện này kích hoạt một cuộc điều tra liên bang và 8 năm sau dẫn tới bản cáo trạng dành cho Latchford.

Các công tố viên Mỹ yêu cầu Latchford giao nộp tất cả số cổ vật và tài sản có được từ buôn bán phạm pháp. Đây là yêu cầu thông thường khi xử lý những vụ tác phẩm nghệ thuật bị đánh cắp. Nhưng các đơn vị offshore (mô hình đơn vị ngoại biên, đăng ký và hoạt động ở nước ngoài) có thể cung cấp cho người sở hữu chúng một lớp bảo vệ.

Mùa xuân năm 2011, theo các tài liệu từ ICIJ, các thành viên gia đình Latchford đã tìm đến Trident Trust, một trong rất nhiều đơn vị giúp những gia đình giàu có thành lập các đơn vị offshore và quỹ tín thác, qua đó tránh được thuế và sự giám sát từ chính phủ.

Trident Trust có văn phòng ở trên 20 quốc gia và vùng bờ cõi, hầu hết được Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế và Mạng lưới Tư pháp Thuế xếp vào danh sách thiên đàng thuế.

Theo trang web của Trident, đơn vị có bề dày kinh nghiệm làm việc với “các gia đình có giá trị tài sản ròng cao”, giúp họ gìn giữ tài sản qua nhiều đời”.

Đầu tiên, Latchford cùng hai con gái là Julia và Copleston tạo ra hai quỹ tín thác ở đảo Jersey, tự ghi tên mình là người thụ tưởng. Jersey, bờ cõi phụ thuộc Anh, có “luật tường lửa” bảo vệ tài sản khỏi các chủ nợ, cơ quan thuế và cơ quan hành pháp khi không yêu cầu phải đăng ký chúng với chính phủ.

Những luật như vậy “được tạo ra để khiến việc xác định nguồn cội tài sản trở nên khó khăn hơn”, Brooke Harrington, giáo sư tại Đại học Dartmouth, Mỹ, nhận xét. “Nếu không biết nguồn cội, bạn sẽ chẳng thể thu hồi”.

Quỹ Skanda được thành lập vào tháng 6/2011, chưa đầy ba tháng sau khi các công tố viên Mỹ ngừng cuộc bán đấu giá của Sotheby’s. Các văn bản mà ICIJ thu thập cho thấy Skanda được lập ra để nắm giữ các tài sản lớn, bao gồm những khoản đầu tư tại đơn vị quản lý tài sản Rathbones và nhà băng tư nhân HSBC, bên cạnh cổ phần tại hai quỹ đầu cơ là Headstart Fund of Funds và Limestone Fund SPC Wider Russia.

Người được ủy thác cũng nắm quyền kiểm soát một đơn vị khác của Latchford, Fleetwing Estates Ltd., đăng ký ở Hong Kong và vào năm 2002 đã mua một căn hộ ở London hiện có giá khoảng 15 triệu USD. Quyền sở hữu căn hộ này được đăng ký cho Julia Latchford và Copleston vào năm 2020.

Các tài liệu mà ICIJ công bố không có thông tin về những cổ vật Khmer mà Quỹ Skanda nắm giữ. Nhưng theo một cuốn sách của Latchford xuất bản năm 2011, 80 món trong số đó, cốt yếu là đồ đồng, dường như thuộc về Quỹ Skanda.

Giới chuyên gia nhận định những cổ vật này có giá trị khoảng 10 triệu USD. chí ít một món, bức tượng Phật mà Latchford bán cho Phòng trưng bày Nancy Wiener ở Manhattan với giá 1,5 triệu USD, là đồ trộm cắp, các công tố viên cho hay.

Một bức tượng Bồ tát từ thế kỷ XII do Latchford tặng được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan hồi tháng 5. Ảnh: Washington Post.

Một bức tượng Bồ tát từ thế kỷ XII do Latchford tặng được trưng bày tại bảo tồn Nghệ thuật Metropolitan hồi tháng 5. Ảnh: Washington Post.

22 món đồ đồng khớp với các bức ảnh thuộc bản quyền của Quỹ Skanda, xuất hiện trong một cuốn sách của Latchford, từng được niêm yết bán bởi phòng trưng bày Asian Art ở Anh, bên cạnh 20 món khác cũng được Latchford rao bán.

Tổng giá trị niêm yết của danh mục là gần hai triệu USD. Marcel Nies Oriental Art, phòng trưng bày nghệ thuật của Bỉ, từng đăng tải thông tin về 7 cổ vật khớp với những món thuộc sở hữu của Quỹ Skanda xuất hiện trong các cuốn sách của Latchford.

Chủ sở hữu phòng trưng bày, Marcel Nies, cho biết ông chưa bao giờ bán bất kỳ tác phẩm nào thay mặt Latchford và không nhận thức được mức độ nghiêm trọng của các cáo buộc chống lại Latchford trước khi ông bị truy tố.

Gia đình Latchford thành lập Quỹ Siva, cũng ở Jersey, vào tháng 9/2012. Đại diện cho hai thực thể này là “đơn vị ủy thác tư nhân” đăng ký tại Quần đảo Virgin thuộc Anh do Latchford lập, mang đến cho chúng mức độ bảo mật cao, theo tài liệu từ ICIJ. Những quỹ như vậy không bắt buộc tiết lộ thông tin về cổ đông hay giám đốc của họ, khiến việc xác định chủ sở hữu thực sự rất khó khăn.

Theo Julia Latchford, gia đình cô thành lập các đơn vị ủy thác tư nhân bởi đây là cách hiệu quả nhất để quản lý các quỹ tín thác. “Nó không được tạo ra nhằm che đậy cấu trúc ủy thác hay thứ mà nó nắm giữ, cũng không nhằm tăng tính bí mật theo bất kỳ cách nào”, Julia cho biết trong một tuyên bố.

Trong những năm qua, các đơn vị bình phong và quỹ tín thác đã tạo điều kiện cho giới buôn bán và sưu tầm cổ vật thực hành nhiều hoạt động bất chính, như rửa tiền, tăng giá các tác phẩm nghệ thuật họ bán, ngụy tạo quyền sở hữu những món đồ bị đánh cắp hay trốn thuế.

Hồ sơ Pandora là gì?

giảng giải về giấy tờ Pandora. Video: Guardian.

Một trong những đối tượng chuyên buôn bán cổ vật bị đánh cắp nổi tiếng nhất là Giacomo Medici, hoạt động từ những năm 1960 đến 1990. Medici bị cáo buộc sử dụng các đơn vị bình phong ẩn danh để hợp pháp hóa những cổ vật bị đánh cắp. Tuy nhiên, Medici phủ nhận hành vi buôn bán các tác phẩm nghệ thuật bị đánh cắp.

Các nhà tài phiệt Nga Boris và Arkady Rotenberg bị cáo buộc né biện pháp trừng phạt kinh tế nhằm vào họ bằng cách sử dụng đơn vị bình phong mua những tác phẩm nghệ thuật trị giá tới 18 triệu USD, bao gồm tranh của họa sĩ siêu thực người Bỉ René Magritte, theo cuộc điều tra của Thượng viện Mỹ. Đại diện của Boris và Arkady Rotenberg bác bỏ tất cả cáo buộc.

Với các nhà điều tra, những đơn vị offshore và quỹ tín thác thường dẫn tới ngõ cụt. “Khi theo dõi những tác phẩm bị đánh cắp, chúng tôi thường gặp phải một quỹ tín thác nào đó, từ Liechtenstein hoặc Panama, Quần đảo Cayman hay nơi nào đó khác. Chúng khiến việc xác định ai là chủ sở hữu thực sự của một vật phẩm trở nên vô cùng khó khăn”, Chris Marinello, nhà sáng lập đơn vị thẩm định Art Recovery International từng giúp thu hồi nhiều cổ vật giá trị bị đánh cắp, cho hay. “Chúng thực sự là trở ngại vật lớn”.

Vũ Hoàng (Theo Washington Post)

Click: Xem thêm

Trả lời