Bo truong Le Minh Hoan Nong nghiep van mu mo

Bộ trưởng Lê Minh Hoan: ‘Nông nghiệp vẫn mù mờ về cung cầu’

Ông Lê Minh Hoan nhìn nhận, ùn tắc ở các cửa khẩu ngoài nhân tố do Trung Quốc siết chặt, còn nguyên nhân từ chính nền kinh tế nông nghiệp mù mờ về cung cầu.

Nhận định này được Bộ trưởng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan nêu tại toạ đàm “Để sản phẩm nông nghiệp không bị ùn tắc ở cửa khẩu, đâu là biện pháp căn cơ”, chiều 4/3.

Tình trạng ùn tắc hàng hóa ở các cửa khẩu tái diễn sau Tết Nguyên đán. Tại Lạng Sơn đến ngày 4/3 còn hơn 1.400 xe container hàng hoá chờ xuất khẩu, trong đó có 800 xe chở sản phẩm nông nghiệp.

Theo ông Hoan, ngoài nhân tố do Trung Quốc siết chặt phòng dịch, kiên trì chiến lược “zero Covid”, còn có nguyên nhân từ chính nền kinh tế nông nghiệp của ta còn mù mờ về cung cầu, chưa đi vào quỹ đạo.

“Ta gần như đi buôn chuyến nhiều hơn, sản xuất và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp chưa có tính kết nối cung cầu. Sản xuất tạo ra sản lượng mà không kiếm tìm thị trường, gắn nhu cầu thị trường nên buôn bán phụ thuộc sự may rủi”, Bộ trưởng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn nhìn nhận.

Ông nói giờ là lúc “chẳng thể một mình một chợ, mà phải cạnh tranh” bằng cách có lộ trình và hành động rõ ràng chuyển từ xuất khẩu tiểu ngạch, đường mòn lối mở sang chính ngạch.

Bộ trưởng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan tại toạ đàm chiều 4/3. Ảnh: VGP

Bộ trưởng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan tại toạ đàm chiều 4/3. Ảnh: VGP

Ông Nguyễn yên bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng, cần thời gian dài mới có thể thay đổi được thói quen mua bán “đã ăn sâu bám rễ”, là xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường mòn lối mở, tiểu ngạch.

“Mỗi hình thức có nhu cầu khách hàng riêng, trong khi để tiếp cận thị trường chính ngạch rất khó, cần phải có biện pháp hỗ trợ hăng hái cho doanh nghiệp”, ông nêu.

Đồng tình cần có lộ trình và mất thời gian chuyển đổi, song Bộ trưởng Lê Minh Hoan nói, “nếu chúng ta không xuất hành thì sẽ không có kết thúc. Mọi sự thay đổi đều khó khăn, nhưng nếu không thay đổi sẽ càng khó khăn hơn”.

Ông Hoan thông tin, ngay tuần sau, bộ này sẽ cùng các hiệp hội, ngành hàng bàn thảo xây dựng phương án chuyển đổi từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch. Theo ông, để làm được điều này phải tổ chức lại ngành hàng, tổ chức lại từ khâu sản xuất đến thị trường thông qua hệ thống hạ tầng logistics.

Chẳng hạn, chọn Quảng Ninh trở nên trung tâm kết nối sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu. Tỉnh sẽ giữ vai trò quản lý, còn đầu tư được xã hội hoá. Tại trung tâm này, phía bạn có thể đưa phòng ban thông quan, kiểm dịch sang, tức là chỉ kiểm tra một lần tại trung tâm rồi xe chạy suốt, có thể đi sâu vào nội địa tùy theo mối quan hệ của thương nhân hai bên.

Khi xảy ra dịch bệnh, khu vực này là “vùng xanh”, tức sản phẩm nông nghiệp Việt vẫn đảm bảo tiêu chuẩn quy định phòng dịch của phía bạn. Còn trường hợp xảy ra ùn ứ, sản phẩm nông nghiệp sẽ được sơ chế, bảo quản tại kho lạnh để tránh hàng nằm ở container dẫn tới giảm chất lượng.

Hiện, chủ trương chọn Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trở nên trung tâm kết nối sản phẩm nông nghiệp đã được hai Bộ Nông nghiệp, Công Thương trình Thủ tướng. Sau Quảng Ninh sẽ là Lạng Sơn.

Ngoài tạo lập nơi kết nối, khâu tổ chức, phát triển sản xuất theo chuỗi, hệ sinh thái và tín hiệu thị trường… cũng rất xung yếu. Định hướng xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp tới đây, lãnh đạo ngành nông nghiệp nhắc tới, là sẽ phát triển đề án riêng cho từng thị trường Export trọng tâm, như Trung Quốc, EU…

Bộ trưởng Lê Minh Hoan mong các hiệp hội, ngành hàng cùng giúp Bộ Nông nghiệp, Công Thương tổ chức lại sản xuất, ngành hàng và tổ chức lại thị trường sản phẩm nông nghiệp. Đây là biện pháp căn cơ và phải chấp thuận làm lại gần như từ đầu về một hệ sinh thái, một chuỗi ngành hàng sản phẩm nông nghiệp.

“Trước nay chúng ta vẫn tư duy ngắn hạn, nên cứ thấp thỏm từng mùa vụ, như đánh bài may rủi. Rồi khi gặp vấn đề, chúng ta lại trách thị trường khó tính, gây ùn ứ. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân, chính chúng ta phải xem lại mình trước”, ông nói.

Bộ trưởng Nông nghiệp cũng khẳng định, sẽ xúc tiến nhanh hơn việc thương thảo, ký kết nghị định về công nhận hàng hóa sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam để làm cơ sở xúc tiến xuất khẩu chính ngạch.

Hiện Bộ Công Thương được giao xây dựng quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, chất lượng với hàng hóa xuất khẩu tiểu ngạch qua biên cương và cơ chế chính sách khuyến khích xuất khẩu chính ngạch với một số hàng hóa đang ùn tắc tại các cửa khẩu. Đề án này sẽ được trình Thủ tướng vào cuối tháng 3.

Anh Minh

Click: Xem thêm

Bo Y te yeu cau khong dung thuoc Molnupiravir voi

Bộ Y tế yêu cầu không dùng thuốc Molnupiravir với F0 chưa có triệu chứ…

Bộ Y tế yêu cầu không dùng thuốc Molnupiravir với F0 chưa có triệu chứng - Ảnh 1.

Một số loại thuốc kháng virus Molnupiravir được bán tại nhiều hiệu thuốc khu vực TP.HCM – Ảnh: THU HIẾN

Bộ Y tế vừa ban hành quyết định số 437/QĐ-BYT sửa đổi, bổ sung một số điểm của chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 trước đó.

Theo quyết định mới này, Bộ Y tế nhấn mạnh không dùng thuốc Molnupiravir cho người không có triệu chứng bệnh, đồng thời bổ sung cho phép sử dụng Remdesivir cho trẻ em dưới 12 tuổi.

Không dùng Molnupiravir khi không triệu chứng

Thuốc Molnupiravir chỉ được sử dụng để điều trị COVID-19 nhẹ đến trung bình có chí ít một nhân tố nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng. 

Thuốc dùng trên bệnh nhân có thời gian khởi phát triệu chứng dưới 5 ngày, không sử dụng quá 5 ngày liên tục. Đặc biệt, không sử dụng để dự phòng sau hay trước phơi nhiễm hoặc khi không có triệu chứng.

Ở người mức độ nhẹ, dùng thuốc khi có các triệu chứng: SpO2 lớn hơn 96%, nhịp thở thấp hơn 20 lần/phút. Người mức độ trung bình: SpO2 94 – 96%, nhịp thở 20 – 25 lần/phút, thương tổn trên X-quang nhỏ hơn 50% hoặc người bệnh COVID-19 mức độ nhẹ có bệnh lý nền được coi như mức độ trung bình.

Liều dùng: 800 mg/lần, uống 2 lần/ngày trong 5 ngày.

Molnupiravir không được khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ mang thai. Không khuyến cáo F0 là phụ nữ nuôi con nhỏ cho con bú trong thời gian điều trị và trong 4 ngày sau liều Molnupiravir cuối cùng.

Đồng thời, không được phép sử dụng thuốc cho bệnh nhân dưới 18 tuổi vì có thể liên quan đến sự phát triển của xương và sụn. 

Molnupiravir có thể liên quan đến tinh trùng của nam giới, nên sử dụng một cách thức tránh thai tin cậy trong thời gian điều trị và chí ít 3 tháng sau liều Molnupiravir cuối cùng.

Remdesivir được dùng cho trẻ dưới 12 tuổi

Theo cập nhật chỉ dẫn mới nhất thuốc Remdesivir chỉ dùng cho bệnh nhân nội trú mức độ nhẹ và có chí ít một nhân tố nguy cơ tiến triển nặng hoặc mức độ trung bình và nặng nhưng khởi phát bệnh chưa quá 10 ngày, đồng thời có suy hô hấp phải thở oxy, thở oxy lưu lượng dòng cao (HFNC), hoặc thở máy không xâm nhập. 

Nên kết hợp với corticoid (ưu tiên dexamethason).

Với các trường hợp đã được điều trị bằng Remdesivir trước khi thở máy xâm nhập hoặc ECMO thì có thể tiếp tục dùng Remdesivir cho đủ liệu trình.

Thuốc được cấp phép sử dụng cho trẻ em dưới 12 tuổi, thực hành theo chỉ dẫn chẩn đoán, điều trị COVID-19 ở trẻ em. Người từ 12 tuổi trở lên và cân nặng hơn 40kg: ngày đầu 200mg, những ngày sau 100mg/ngày, truyền tĩnh mạch một lần trong 30 – 120 phút.

Không khuyến cáo sử dụng thuốc với phụ nữ có thai và nuôi con bằng sữa mẹ. Theo dõi người bệnh trong thời gian truyền và trong vòng 1 giờ sau truyền để phát hiện, xử trí kịp thời phản vệ cũng như các phản ứng. 

Ngưng sử dụng thuốc nếu ALT tăng trên 5 lần giới hạn trên thường nhật trong quá trình điều trị.

Bộ Y tế cũng cho biết chưa có đủ thông tin khuyến cáo sử dụng thuốc cho người bệnh có mức lọc cầu thận ước tính eGFR thấp hơn 30 mL/phút.

Click: Xem thêm

Bo Y te chot gia thuoc molnupiravir thap nhat 8675

Bộ Y tế ‘chốt’ giá thuốc molnupiravir thấp nhất 8.675 đồng một viên

Ngày 23/2, Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế, công khai đơn giá ba loại thuốc molnupiravir do Việt Nam sản xuất, loại thấp nhất giá 8.675 đồng/viên.

giải đáp VnExpress, đại diện Cục Quản lý Dược xác nhận thông tin và cho biết đây là hoạt động thường quy về giá thuốc. Thông tin về giá thuốc được đăng tải công khai tại Cổng thông tin Cục Quản lý Dược.

Theo đó, thuốc Molravir 400, thành phần molnupiravir 400 mg, của đơn vị Cổ phần dược phẩm Boston Việt Nam, đơn giá 11.550 đồng một viên. Thuốc Movinavir, thành phần molnupiravir 200 mg, của đơn vị Cổ phần hóa dược phẩm Mekophar giá 8.675 đồng một viên. Thuốc Molnupiravir Stella 400 mg, do đơn vị TNHH Liên doanh Stellapharm – chi nhánh 1, đơn giá 12.500 đồng một viên.

Một hộp thuốc molnupiravir đóng gói 20 viên 400 mg hoặc 40 viên 200 mg đủ cho một liệu trình điều trị. Như vậy, giá thuốc dao động từ 230.000 đến dưới 350.000 một hộp cho liệu trình 5 ngày.

Molnupiravir là thuốc kháng virus đầu tiên được Bộ Y tế cấp phép nguy cấp. Thuốc có tác dụng giảm tải lượng virus trong thân thể, từ đó giảm nguy cơ trở nặng và tử vong. Bộ Y tế đã đưa molnupiravir cùng hai thuốc kháng virus khác là favipiravir, remdesivir vào phác đồ điều trị Covid-19. Theo đó, molnupiravir không được sử dụng quá 5 ngày liên tục, không sử dụng để dự phòng trước hoặc sau khi mắc Covid-19 hoặc điều trị khởi đầu cho bệnh nhân Covid-19 nhập viện. Liều dùng là 1.600 mg một ngày, tương đương 4 viên 400 mg hoặc 8 viên 200 mg.

Trẻ em, bệnh nhân dị ứng với molnupiravir hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc, phụ nữ có thai và đang cho con bú không sử dụng thuốc này. Thuốc có thể liên quan đến thai nhi, tinh trùng, theo cảnh báo của Bộ Y tế.

Chiều cùng ngày, đại diện FPT Long Châu cho biết đã mở bán thuốc molnupiravir, số lượng khoảng 500.000 viên. Nhà thuốc bán 2 trong 3 loại thuốc đã được Bộ Y tế cấp phép, gồm Molravir 400 và Molnupiravir Stella 400 với cùng mức giá 12.500 đồng một viên.

Thuốc molnupiravir sản xuất tại Công ty Boston Việt Nam, ngày 23/2. Ảnh: Quỳnh Trần

Thuốc molnupiravir sản xuất tại đơn vị Boston Việt Nam, ngày 23/2. Ảnh: Quỳnh Trần

Hôm 18/2, cả ba doanh nghiệp sản xuất molnupiravir cho biết có kế hoạch đưa thuốc ra thị trường trong tuần này và phân phối theo hệ thống các nhà thuốc trên cả nước.

Hiện Mekophar đã có sẵn một số nguyên liệu cung cấp từ Ấn Độ, sẽ sản xuất ngay để có thuốc.

đơn vị Stellapharm đã nhập khẩu nguyên liệu sản xuất về cảng và xem lại nhu cầu đặt hàng từ các địa phương để có kế hoạch sản xuất thích hợp. Công suất nhà máy Stellapharm có thể đạt vài triệu liều một lúc nên đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, theo đại diện đơn vị.

Chi Lê

Click: Xem thêm

Bo Y te chi dan moi nhat ve dau hieu

Bộ Y tế chỉ dẫn mới nhất về dấu hiệu, phân loại mức độ bệnh ở trẻ mắ…

Thứ Tư, ngày 23/02/2022 08:19 AM (GMT+7)

Hầu hết trẻ chỉ bị viêm đường hô hấp trên với sốt nhẹ, ho, đau họng, sổ mũi, mỏi mệt; hay viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng 1-2 tuần.

Số ca mắc COVID-19 trong nước từ 27/04/2021

Xem thêm số liệu dịch COVID-19 >

Nguồn: Bộ Y tế – Cập nhật lúc 09:49 23/02/2022

STT Tỉnh thành Ca nhiễm mới
bữa qua
Tổng Ca
nhiễm
Ca tử
vong
Ca tử vong
công bố bữa qua
TỔNG +55.871 2.882.983 39.647 77
1 Hà Nội +6.860 210.883 873 17
2 TP.HCM +1.352 522.142 20.275 1
3 Bắc Ninh +2.842 64.053 98 0
4 Bắc Giang +2.500 32.259 29 0
5 Hải Dương +2.485 38.195 43 0
6 Hòa Bình +2.087 28.738 50 3
7 Quảng Ninh +2.087 32.372 13 0
8 Phú Thọ +2.084 30.609 21 0
9 Lào Cai +2.056 16.480 12 0
10 Nam Định +1.943 36.587 50 2
11 Vĩnh Phúc +1.811 45.330 14 0
12 Hải Phòng +1.798 55.468 106 2
13 Ninh Bình +1.665 20.132 40 1
14 Thái Nguyên +1.645 31.141 26 0
15 Sơn La +1.494 14.836 0 0
16 Nghệ An +1.441 38.925 72 6
17 Hưng Yên +1.312 28.716 2 0
18 Yên Bái +1.290 12.524 6 0
19 Thái Bình +1.282 20.346 9 1
20 Khánh Hòa +1.213 68.320 315 2
21 Thanh Hóa +995 37.595 50 8
22 Đắk Lắk +989 23.426 92 3
23 Quảng Nam +976 27.852 58 0
24 Đà Nẵng +946 50.691 215 3
25 Tuyên Quang +845 11.904 5 0
26 Bình Định +835 45.698 194 4
27 Lạng Sơn +765 13.926 33 0
28 Hà Tĩnh +690 9.821 7 0
29 Cao Bằng +649 6.106 12 1
30 Lâm Đồng +630 23.535 83 2
31 Quảng Bình +567 15.443 24 0
32 Điện Biên +499 6.191 3 0
33 Quảng Trị +494 11.262 12 0
34 Gia Lai +461 14.339 44 1
35 Bà Rịa – Vũng Tàu +441 35.411 454 0
36 Bình Phước +429 51.647 184 2
37 Lai Châu +388 3.697 0 0
38 Hà Nam +380 10.490 13 0
39 Cà Mau +351 58.739 290 0
40 Phú Yên +316 15.437 76 4
41 Thừa Thiên Huế +237 26.003 167 0
42 Bắc Kạn +233 2.862 5 0
43 Đắk Nông +232 12.511 33 0
44 Hà Giang +181 14.540 38 0
45 Kon Tum +157 5.484 0 0
46 Bình Thuận +155 31.008 422 1
47 Quảng Ngãi +135 17.810 79 1
48 Bình Dương +132 294.324 3.395 0
49 Tây Ninh +113 88.991 841 0
50 Bến Tre +64 42.943 419 1
51 Bạc Liêu +50 36.280 382 0
52 Đồng Tháp +47 47.837 1.002 1
53 Cần Thơ +46 44.833 912 1
54 Vĩnh Long +40 54.464 784 3
55 Đồng Nai +37 100.521 1.756 0
56 Trà Vinh +37 38.605 238 0
57 Long An +27 42.008 988 0
58 Kiên Giang +17 34.187 875 4
59 Ninh Thuận +14 7.131 56 0
60 An Giang +9 35.427 1.323 0
61 Sóc Trăng +9 32.654 589 2
62 Hậu Giang +6 16.225 202 0
63 Tiền Giang 0 35.069 1.238 0


Tình hình tiêm chủng vaccine ở Việt Nam

Xem thêm số liệu vaccine COVID-19 >

Nguồn: Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 – Cập nhật lúc 00:00 22/02/2022

Số mũi đã tiêm toàn quốc


Ngày 22/2, Bộ Y tế ban hành Quyết định 405/QĐ-BYT về việc ban hành chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 ở trẻ em. chỉ dẫn này thay thế Quyết định số 5155/QĐ-BYT ngày 8-11-2021 của Bộ Y tế về chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 ở trẻ em.

Bộ Y tế hướng dẫn mới nhất về dấu hiệu, phân loại mức độ bệnh ở trẻ mắc COVID-19 - 1

Trẻ mắc COVID-19 (Ảnh minh họa).

Theo Bộ Y tế, triệu chứng lâm sàng của bệnh nhi mắc COVID-19 như sau: Thời gian ủ bệnh từ 2 đến 14 ngày, trung bình là 4 – 5 ngày; có một hay nhiều triệu chứng như: Sốt, mỏi mệt, đau đầu, ho khan, đau họng, nghẹt mũi/sổ mũi, mất vị giác/khứu giác, nôn và tiêu chảy, đau cơ. Tuy nhiên, phần lớn trẻ mắc COVID-19 không triệu chứng hoặc nhẹ với triệu chứng viêm hô hấp trên hoặc tiêu hóa (chiếm 55%), trung bình (chiếm 40%), nặng (4%), nguy kịch (0,5%). Trẻ nhũ nhi < 12 tháng tuổi có nguy cơ cao diễn tiến nặng.

Hầu hết trẻ chỉ bị viêm đường hô hấp trên với sốt nhẹ, ho, đau họng, sổ mũi, mỏi mệt; hay viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng 1-2 tuần. Khoảng 2% trẻ có diễn tiến nặng, thường vào ngày thứ 5 đến ngày thứ 8 của bệnh. Trong đó, một số trẻ (khoảng 0,7%) cần điều trị tại các đơn vị hồi sức hăng hái với các biến chứng nặng như: Hội chứng nguy kịch hô hấp cấp (ARDS), viêm cơ tim, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm trùng và hội chứng viêm đa hệ thống (MIS-C). Tỷ lệ tử vong ở trẻ rất thấp (< 0,1%), hầu hết tử vong do bệnh nền.

Riêng đối với trẻ sơ sinh mắc COVID-19 thường không triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ và không đặc hiệu như: Sốt, ho, bú kém, nôn, tiêu chảy, trẻ li bì, khóc yếu, thở nhanh, có cơn ngừng thở, tím tái khi nặng. Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm SARS-CoV-2 sớm ở trẻ sơ sinh được thực hành trong vòng 24 giờ sau sinh và sau khi được kề da chí ít 90 phút và hoàn thành cữ bú đầu tiên trên ngực mẹ; nếu kết quả xét nghiệm âm tính, thực hành lại xét nghiệm sau 48-72 giờ.

Phân loại các mức độ bệnh ở trẻ

Trẻ nhiễm không có triệu chứng: Là những trẻ được chẩn đoán xác định nhiễm COVID-19 nhưng không có bất kỳ thể hiện lâm sàng nào.

– Mức độ nhẹ:

+ Triệu chứng không điển hình: Sốt, đau họng, ho, chảy mũi, tiêu chảy, nôn, đau cơ, ngạt mũi, mất khứu/vị giác, không có triệu chứng của viêm phổi.

+ Nhịp thở thường nhật theo tuổi.

+ Không có thể hiện của thiếu ô xy, SpO2 ≥  96% khi thở khí trời.

+ Thần kinh: Trẻ tỉnh táo, sinh hoạt thường nhật, bú mẹ/ăn/uống thường nhật.

+ X-quang phổi thường nhật.

“Với trẻ có bệnh nền: Béo phì, bệnh phổi mãn, suy thận mãn, gan mật, dùng corticoid kéo dài, suy giảm miễn dịch, tim bẩm sinh…, cần theo dõi sát vì dễ diễn biến nặng”, Bộ Y tế lưu ý.

– Mức độ trung bình: Có triệu chứng viêm phổi nhưng không có các dấu hiệu của viêm phổi nặng và rất nặng: Thở nhanh: Trẻ < 2 tháng tuổi: ≥ 60 lần/phút; trẻ từ 2-11 tháng: ≥ 50 lần/phút; trẻ từ 1-5 tuổi: ≥ 40 lần/phút. Ngoài ra, SpO2: 94% – 95% khi thở khí trời. Trẻ tỉnh táo, mệt, ăn, bú và uống ít hơn. X-quang phổi có thương tổn dạng mô kẽ, kính mờ (thường 2 đáy phổi).

– Mức độ nặng:  Trẻ có triệu chứng viêm phổi nặng, chưa có dấu hiệu hiểm nguy đe dọa tính mệnh: Thở nhanh theo tuổi (≥ 1 tuổi) kèm dấu hiệu co rút lồng ngực hoặc thở rên (trẻ < 2 tháng tuổi), phập phồng cánh mũi. Ngoài ra, trẻ khó chịu, quấy khóc, bú, ăn và uống khó; SpO2: 90% đến dưới 94%; X-quang phổi có thương tổn dạng mô kẽ, kính mờ lan tỏa ≥ 50% phổi.

– Mức độ nguy kịch:  Suy hô hấp nặng SpO2 < 90% khi thở khí trời, cần đặt nội khí quản thông khí xâm nhập. Ngoài ra, có dấu hiệu hiểm nguy đe dọa tính mệnh: Thở bất thường, rối loạn nhịp thở; ý thức giảm, khó đánh thức hoặc hôn mê; trẻ bỏ bú/ăn hoặc không uống được; hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS); huyết áp tụt, sốc, sốc nhiễm trùng, lactat máu > 2 mmol/L; suy đa tạng; cơn bão cytokine (thủ phạm gây biến chứng nặng ở người nhiễm COVID-19).


Nguồn: http://danviet.vn/bo-y-te-huong-dan-moi-nhat-ve-dau-hieu-phan-loai-muc-do-benh-o-tre-mac-covid-1…

Bác sĩ Nhi khoa lưu ý khi chăm sóc trẻ mắc COVID-19 tại nhà

Dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp và gia tăng số lượng người mắc trong đó có nhiều trẻ em. BS. Đào Trường Giang, chuyên khoa Nhi, bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội tham vấn…

Click: Xem thêm

Bo truong gui thu khen tai xe dung cam tai

Bộ trưởng gửi thư khen tài xế dũng cảm tài xế bồn đang cháy rời cây xă…

Trong thư gửi tài xế Đinh Thành Trung, viên chức tài xế thuộc doanh nghiệp TNHH xăng dầu Vạn Phúc, Bộ trưởng Giao thông vận chuyển Nguyễn Văn Thể cho biết qua báo cáo của Sở Giao thông vận chuyển tỉnh Tiền Giang và trên các phương tiện thông tin đại chúng, được biết vào hồi 15 giờ 30 ngày 19-2, chiếc xe bồn do anh Đinh Thành Trung điều khiển đang dùng để nhập nhiên liệu vào bồn chứa tại cột xăng ở phường 1, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang bất thần phát nổ từ phía bồn chứa, bắt lửa và bốc cháy.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể khen tài xế dũng cảm lái xe bồn đang cháy khỏi cây xăng - Ảnh 1.

Hiện trường lúc xe bồn đang cháy

Bất chấp việc có thể bị tác động đến tính mệnh, nhưng anh Trung vẫn dũng cảm leo lên cabin, kịp thời điều khiển xe di chuyển ra khỏi khu vực cột xăng.

Trong quá trình di chuyển chiếc xe chở xăng đang phát cháy, bản thân anh và một viên chức của cột xăng đã bị bỏng, phải đưa tới bệnh viện cấp cứu.

“Hành động của anh Đinh Thành Trung thể hiện tính quyết đoán, tinh thần dũng cảm, qua đó tránh được một vụ cháy nổ đặc biệt hiểm nguy có thể tác động đến tính mệnh của nhiều người”- Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể nêu rõ.

Thay mặt Lãnh đạo Ủy ban An toàn giao thông quốc gia và Bộ Giao thông vận chuyển, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể biểu dương hành động của anh Trung, thể hiện tinh thần đạo đức nghề nghiệp, sự dũng cảm, trách nhiệm vì cộng đồng của một người tài xế.

“Tôi cũng mong rằng, việc làm của anh Trung sẽ trở nên tấm gương sáng đối với toàn thể cán bộ, công viên chức ngành vận chuyển đường bộ nói riêng cũng như trong ngành Giao thông vận chuyển nói chung, qua đó góp phần lan tỏa những tấm gương người tốt, việc tốt trong toàn xã hội” – Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể tỏ bày.


Văn Duẩn




Click: Xem thêm

Bo Y te cho phep giam thoi gian cach ly

Bộ Y tế cho phép giảm thời gian cách ly F1 tại nhà-Sức khỏe đời sống

Thứ Hai, ngày 21/02/2022 16:34 PM (GMT+7)

Với những F1 tiêm 2 mũi vắc-xin COVID-19 chỉ cách ly 5 ngày, xét nghiệm 1 lần.

Số ca mắc COVID-19 trong nước từ 27/04/2021

Xem thêm số liệu dịch COVID-19 >

Nguồn: Bộ Y tế – Cập nhật lúc 17:32 21/02/2022

STT Tỉnh thành Ca nhiễm mới
bữa qua
Tổng Ca
nhiễm
Ca tử
vong
Ca tử vong
công bố bữa qua
TỔNG +47.192 2.780.251 39.466 78
1 Hà Nội +5.102 198.546 821 0
2 TP.HCM +849 519.993 20.272 0
3 Bắc Ninh +2.360 58.629 98 1
4 Phú Thọ +1.981 26.617 20 1
5 Quảng Ninh +1.980 28.387 13 0
6 Thái Nguyên +1.838 27.634 23 2
7 Hòa Bình +1.797 24.869 47 2
8 Nam Định +1.754 32.929 45 1
9 Hải Phòng +1.698 51.963 102 3
10 Vĩnh Phúc +1.692 41.785 14 0
11 Ninh Bình +1.556 16.783 37 5
12 Bắc Giang +1.500 28.137 29 0
13 Nghệ An +1.467 36.065 66 7
14 Lào Cai +1.360 13.243 11 0
15 Hải Dương +1.316 33.895 40 2
16 Hà Tĩnh +1.294 8.442 7 0
17 Yên Bái +1.275 9.954 6 0
18 Thanh Hóa +1.220 35.343 42 1
19 Bình Định +1.019 44.021 187 4
20 Thái Bình +1.015 17.961 8 0
21 Sơn La +1.007 12.482 0 0
22 Tuyên Quang +989 10.226 5 0
23 Quảng Bình +861 14.098 20 4
24 Lạng Sơn +808 12.462 33 0
25 Hưng Yên +789 26.605 2 0
26 Đắk Lắk +748 21.717 86 2
27 Đà Nẵng +720 48.838 209 7
28 Quảng Nam +697 26.034 54 0
29 Khánh Hòa +590 66.511 312 1
30 Cao Bằng +564 4.983 10 1
31 Phú Yên +553 14.649 71 3
32 Lâm Đồng +435 22.428 78 3
33 Quảng Trị +415 10.455 12 0
34 Đắk Nông +362 11.961 31 0
35 Điện Biên +358 5.254 3 2
36 Bình Phước +348 50.853 182 1
37 Lai Châu +332 3.095 0 0
38 Hà Nam +290 9.781 11 0
39 Bà Rịa – Vũng Tàu +288 34.594 453 1
40 Gia Lai +286 13.878 43 2
41 Thừa Thiên Huế +224 25.521 167 0
42 Bình Dương +215 293.968 3.395 0
43 Bắc Kạn +190 2.507 5 0
44 Kon Tum +143 5.175 0 0
45 Hà Giang +139 14.208 37 1
46 Quảng Ngãi +130 17.557 77 3
47 Cà Mau +105 58.184 290 2
48 Bình Thuận +85 30.755 420 1
49 Kiên Giang +66 34.094 867 5
50 Tây Ninh +64 88.815 841 0
51 Bạc Liêu +63 36.197 382 3
52 Đồng Nai +53 100.476 1.754 0
53 Vĩnh Long +35 54.412 777 0
54 Bến Tre +33 42.838 418 0
55 Trà Vinh +29 38.530 236 1
56 Cần Thơ +22 44.773 911 2
57 An Giang +22 35.414 1.318 0
58 Sóc Trăng +13 32.634 585 2
59 Ninh Thuận +12 7.105 56 0
60 Đồng Tháp +12 47.741 999 1
61 Long An +10 41.968 988 1
62 Hậu Giang +8 16.216 202 0
63 Tiền Giang +6 35.063 1.238 0


Tình hình tiêm chủng vaccine ở Việt Nam

Xem thêm số liệu vaccine COVID-19 >

Nguồn: Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 – Cập nhật lúc 00:00 20/02/2022

Số mũi đã tiêm toàn quốc


Chiều 21/2, Bộ Y tế có công văn gửi Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thủ trưởng các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế về việc cách ly y tế đối với F0 và các trường hợp tiếp xúc gần (F1).

Công văn này thay thế Công văn số 10696/BYT-MT ngày 16/12/2021 của Bộ Y tế về việc cách ly y tế cho trường hợp F1 đã tiêm đủ liều vắc-xin hoặc đã khỏi bệnh COVID-19. Tại công văn này, F1 tiêm đủ mũi vắc-xin phải cách ly tế 7 ngày tại nhà, nơi tạm cư, tự theo dõi sức khỏe trong 7 ngày tiếp theo. Ngoài ra, thực hành xét nghiệm 2 lần (lần 1 khi khởi đầu thực hành cách ly, lần 2 vào ngày thứ 7).

Nóng: Bộ Y tế cho phép giảm thời gian cách ly F1 tại nhà - 1

(Ảnh minh họa).

Việc ban hành công văn mới này được Bộ Y tế căn cứ vào tình hình dịch bệnh hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam, tỷ lệ bao phủ vắc-xin cao trên phạm vi toàn quốc, nhằm hài hòa giữa việc phát triển kinh tế và kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 tại các cơ quan, xí nghiệp, trường học, địa phương.

Bộ Y tế yêu cầu Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành; Thủ trưởng các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế tổ chức việc cách ly y tế với F0 và F1 phù hợp với điều kiện và nguồn lực của các địa phương.

Theo đó, với F1 đã tiêm đủ ít nhất 2 liều vắc-xin phòng COVID-19, liều cuối cùng tiêm trong thời gian ít nhất 14 ngày hoặc đã khỏi bệnh COVID-19 trong vòng 3 tháng tính đến thời điểm được xác định là đối tượng F1 thì thực hiện cách ly y tế 5 ngày tại nhà, nơi lưu trú hoặc các khu vực đủ điều kiện cách ly khác kể từ ngày phơi nhiễm cuối cùng.

F1 cần thực hiện xét nghiệm vào ngày cách ly thứ 5 do nhân viên y tế thực hiện hoặc người cách ly tự thực hiện dưới sự giám sát của nhân viên y tế bằng ít nhất một trong các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp qua các phương tiện từ xa.

Nếu kết quả âm tính thì tiếp tục tự theo dõi sức khoẻ trong 5 ngày tiếp theo và nghiêm túc thực hiện Thông điệp 5K.

F1 chưa tiêm đủ liều hoặc chưa tiêm vắc-xin phòng COVID-19 thì thực hiện cách ly 7 ngày tại nhà, nơi lưu trú hoặc các khu vực đủ điều kiện cách ly khác kể từ ngày phơi nhiễm cuối cùng.

F1 này thực hiện xét nghiệm vào ngày cách ly thứ 7. Nếu kết quả âm tính thì tiếp tục tự theo dõi sức khoẻ trong 3 ngày tiếp theo và nghiêm túc thực hiện Thông điệp 5K.

Trong quá trình cách ly, nếu F1 có dấu hiệu bất thường về sức khỏe (sốt; ho; đau họng; chảy nước mũi, nghẹt mũi; đau người, mệt mỏi, ớn lạnh; giảm hoặc mất vị giác; giảm hoặc mất khứu giác; đau, nhức đầu; tiêu chảy; khó thở; viêm đường hô hấp) thì báo cho cơ quan y tế để theo dõi, xét nghiệm và xử trí theo quy định.


Nguồn: http://danviet.vn/nong-bo-y-te-cho-phep-giam-thoi-gian-cach-ly-f1-tai-nha-502022212163510388.htm

Danh mục những loại thuốc điều trị cho F0 tại nhà

Theo chỉ dẫn quản lý người mắc COVID-19 tại nhà của Bộ Y tế, F0 cần lưu ý về danh mục các thuốc điều trị.

Click: Xem thêm

Bo Y te de xuat can nhac bo sung quy

Bộ Y tế đề xuất cân nhắc, bổ sung quy định mở lại karaoke, vũ trường

Ngày 14-2, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn có công văn 628 giải đáp Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch cho ý kiến về dự thảo Công văn tổ chức hoạt động mua bán dịch vụ karaoke , vũ trường (theo công văn số 353/BVHTTDL-VHCS ngày 28-1).

Để đảm bảo công tác phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe người dân, Bộ Y tế đề xuất Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch cân nhắc bổ sung vào nội dung dự thảo công văn một số nội dung.

Theo Bộ Y tế, việc hoạt động trở lại các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường cần căn cứ trên kết quả đánh giá cấp độ dịch bệnh tại mỗi địa phương, khu vực có hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường.

Bộ Y tế đề nghị cân nhắc, bổ sung quy định mở lại karaoke, vũ trường - Ảnh 1.

Vũ trường, quán bar trên địa bàn TP HCM được phép hoạt động trở lại từ ngày 10-1. Ảnh: NLĐO

Ngoài ra, nơi thực hành hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường thường là nơi có không gian kín nên dễ xảy ra lây nhiễm Covid-19. Do vậy, theo góp ý của Bộ Y tế, khi hoạt động trở lại cần tăng cường các biện pháp vệ sinh, phòng chống lây nhiễm tại khu vực cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường (khử khuẩn, thông khí,…).

Lưu ý với người tham gia cần thực hành nghiêm 5K, tiêm phòng vắc-xin Covid-19 đủ liều, không cung cấp dịch vụ cho người đang có các triệu chứng mắc Covid-19 (ho, sốt…).

Cũng theo ý kiến của Bộ Y tế, địa phương, nơi cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường cần có kế dự phòng, đáp ứng với các tình huống dịch bệnh có thể xẩy ra trong khu vực cung cấp dịch vụ để khoanh vùng gọn, không để lây lan rộng ra cộng đồng (nếu ghi nhận ổ dịch).

Trước đó, Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch có dự thảo công văn gửi UBND các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương về tổ chức các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường sau thời gian tạm đóng cửa phòng dịch Covid-19.

Theo đó, cơ quan này đề xuất UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục khai triển có hiệu quả Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19-6-2019 của Chính phủ quy định về mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường.

Xây dựng phương án cho phép các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường được hoạt động trở lại khi đảm bảo các điều kiện về phòng, chống dịch bệnh Covid-19, an ninh trật tự và phòng, chống cháy nổ.

Bộ này cũng đề xuất các tỉnh, thành tổ chức khai triển phương án kiểm tra, rà soát, thẩm định và chỉ cho phép hoạt động đối với cơ sở mua bán đáp ứng đủ điều kiện và kịp thời điều chỉnh hoạt động của các đơn vị thích hợp với cấp độ dịch ở địa phương…

Tăng cường công tác thanh tra, quản lý, chỉnh đốn, xử lý các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường không chấp hành các quy định phòng, chống dịch.

Bộ Y tế đề nghị cân nhắc, bổ sung quy định mở lại karaoke, vũ trường - Ảnh 2.



Click: Xem thêm

Bo Y te luu y cac yeu cau phong dich

Bộ Y tế lưu ý các yêu cầu phòng dịch để mở lại karaoke, vũ trường

Bộ Y tế lưu ý các yêu cầu phòng dịch để mở lại karaoke, vũ trường - Ảnh 1.

viên chức một quán karaoke tại TP.HCM tất bật lau chùi để đón khách sau khi được mở cửa trở lại – Ảnh: NGỌC PHƯỢNG

Ngày 14-2, Bộ Y tế vừa có công văn giải đáp công văn số 353/BVHTTDL-VHCS ngày 28-1 về việc góp ý dự thảo công văn tổ chức hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường của Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch.

Theo đó, để đảm bảo công tác phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe người dân, Bộ Y tế yêu cầu Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch cân nhắc bổ sung vào nội dung dự thảo công văn một số nội dung sau:

1. Việc hoạt động trở lại các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường cần căn cứ trên kết quả đánh giá cấp độ dịch bệnh tại mỗi địa phương, khu vực có hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường. 

2. Nơi thực hành hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường thường là nơi có không gian kín nên dễ xảy ra lây nhiễm COVID-19. Do vậy, khi hoạt động trở lại cần tăng cường các biện pháp vệ sinh, phòng chống lây nhiễm tại khu vực cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường (khử khuẩn, thông khí…). 

Lưu ý, với người tham gia cần thực hành nghiêm 5K, tiêm phòng vắc xin đủ liều, không cung cấp dịch vụ cho người đang có các triệu chứng mắc COVID-19 (ho, sốt…). 

3. Địa phương, nơi cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường cần có kế hoạch dự phòng, đáp ứng với các tình huống dịch bệnh có thể xảy ra trong khu vực cung cấp dịch vụ để khoanh vùng gọn, không để lây lan rộng ra cộng đồng (nếu ghi nhận ổ dịch).

Hiện nhiều địa phương đã cho phép karaoke, vũ trường được hoạt động, riêng Hà Nội vẫn chưa mở các hoạt động này sau gần 10 tháng đóng cửa. 

Mới đây, hàng loạt chủ quán karaoke ở Hà Nội đã có đơn gửi cơ quan chức năng mong được sớm hoạt động trở lại.

Trước đó, vào tháng 1-2022, Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch dự thảo công văn gửi UBND các tỉnh, TP trực thuộc trung ương về tổ chức các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường sau thời gian tạm đóng cửa phòng dịch COVID-19.

Theo đó, để tháo gỡ khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường sau gần 2 năm ngưng trệ vì COVID-19, đồng thời thống nhất tổ chức các hoạt động dịch vụ này trên toàn quốc, thích hợp với tình hình diễn biến của dịch COVID-19, bộ này yêu cầu UBND các tỉnh, thành thực hành một số nội dung sau:

Xây dựng phương án cho phép các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường được hoạt động trở lại khi đảm bảo các điều kiện về phòng, chống dịch bệnh COVID-19, an ninh trật tự và phòng, chống cháy nổ.

Tổ chức khai triển phương án kiểm tra, rà soát, thẩm định và chỉ cho phép hoạt động đối với cơ sở mua bán đáp ứng đủ điều kiện và kịp thời điều chỉnh hoạt động của các đơn vị thích hợp với cấp độ dịch ở địa phương.

Ngoài ra, yêu cầu các chủ cơ sở mua bán thực hành các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 theo chỉ dẫn của ngành y tế về phòng, chống lây nhiễm dịch COVID-19 tại cơ sở mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường.

Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, quản lý, chỉnh đốn, xử lý các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường không chấp hành các quy định phòng, chống dịch.

Click: Xem thêm

Bo truong Le Minh Hoan Toi rat uu tu khi

Bộ trưởng Lê Minh Hoan: ‘Tôi rất ưu tư khi thu nhập người người làm nông chư…

Bộ trưởng Lê Minh Hoan: Tôi rất ưu tư khi thu nhập người nông dân chưa tương xứng với tăng trưởng - Ảnh 1.

Bộ trưởng Lê Minh Hoan – Ảnh: C.TUỆ

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) Lê Minh Hoan nhấn mạnh như vậy khi giải đáp Tuổi Trẻ Online trong dịp Tết Nhâm Dần 2022.

Xây dựng đề án xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp

* Ngành nông nghiệp có một năm “vượt khó”, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp đạt kỷ lục 48,6 tỉ USD, bộ trưởng có đánh giá gì với những biện pháp mà toàn ngành nỗ lực thực hành trong năm qua?

– thời khắc tháng 9, tháng  10-2021, khi đó các tỉnh thành phía Nam giãn cách xã hội do dịch COVID-19 làm đứt gãy cả một chuỗi ngành hàng sản phẩm nông nghiệp. Từ sản xuất, chế biến và hệ thống phân phối bị ngưng trệ, tới thị trường Export nhưng chúng ta cũng không tưởng tượng rằng chúng ta đã vượt qua và hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch đề ra.

Điều đó nói lên sự năng động, thích ứng, nhanh nhạy không chỉ là trong bộ máy quản lý chuyên ngành nông nghiệp từ trung ương đến địa phương mà cả sự năng động, chống chịu của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc kết nối doanh nghiệp để giữ vững thị trường để phục hồi nhanh trong những tháng cuối năm.

Chúng ta cũng kiêu hãnh với hơn 10 triệu dân bị giãn cách nhưng thực phẩm cũng đến được từng ngôi nhà mặc dầu một vài thời khắc thiếu cục bộ vài nơi. Thế nhưng nhìn chung chúng ta không bị thiếu ăn. Từ đó khẳng định lại lần nữa vai trò trụ đỡ của ngành nông nghiệp trong lúc kinh tế đất nước gặp khó khăn.

* Qua đại dịch COVID-19, bộ trưởng thấy ngành nông nghiệp cần khắc phục những hạn chế, bất cập gì?

– Tôi hay nói trong đại dịch COVID-19 chúng ta rút ra được bài học gì mới xung yếu. Những điều chúng ta xem như là xử lý tình huống thì trong giai đoạn tới nó sẽ bổ sung cho chúng ta một quy trình, quy chế, những kịch bản để có thể ứng phó linh hoạt ở bất kỳ tình huống nào.

Như chuỗi cung ứng, chúng tôi không đẩy mạnh sản xuất tập trung vào xác định thị trường, quy mô trong từng thời khắc để điều chỉnh sản xuất cho thích hợp. Đồng thời đầu tư nhiều hơn cho chuỗi cung ứng, hệ thống kho bãi, cơ sở phân loại, bảo quản, chế biến để khi đứt gãy chúng ta có chỗ giữ lại, nơi giữ lại tạo giá trị gia tăng cao hơn.

Trong chương trình phục hồi kinh tế của Chính phủ vừa qua chúng tôi đã đề xuất và được chấp thuận đầu tư cho chuỗi logistics ngành hàng nông nghiệp ở trong nước để làm nền tảng để giữ vững thị trường trong nước vừa có thể tham gia xuất khẩu chủ động hơn, ít bị lệ thuộc hơn.

Bên cạnh đó là thông tin dữ liệu, tôi hay nói nông nghiệp chúng ta là một nền nông nghiệp mù mờ, mà mù mờ trong lúc thông thường đã khó rồi, khi có nhiều nhân tố tác động tới làm mù mờ hơn thì sẽ dễ bị đứt gãy, thừa chỗ này, thiếu chỗ kia, sự điều phối sẽ không đúng lúc, đúng nơi, đúng chỗ.

Do đó, chuyển đổi số trong nông nghiệp để xây dựng cơ sở dữ liệu từ đầu cung cho tới đầu cầu và thông qua cơ sở dữ liệu đó thì ngành nông nghiệp sẽ phát huy vai trò điều phối.

Bộ trưởng Lê Minh Hoan: Tôi rất ưu tư khi thu nhập người nông dân chưa tương xứng với tăng trưởng - Ảnh 2.

Bộ trưởng Lê Minh Hoan thăm vườn vải thiều ở Thanh Hà, tỉnh Hải Dương – Ảnh: C.TUỆ

*Bộ trưởng có biện pháp gì để xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp vững bền hơn, tăng giá trị cao hơn trong năm 2022 và những năm tới?

– Khi tôi đi qua châu Âu và khi tiếp xúc với các vị đại sứ thì mới phát hiện ra một điều rằng xuất khẩu của chúng ta có tăng mà lại thiếu vững bền. chính yếu là sự năng động của doanh nghiệp mình với một kết nối được các doanh nghiệp của nước ngoài rồi đưa hàng sang chứ chưa có một chiến lược hay một đề án mang tính chất xuất khẩu một cách vững bền cho từng loại thị trường, kể cả một cách để xâm nhập vào thị trường.

Đa phần sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam trong thời gian ở những cửa hàng gốc Á hoặc cửa hàng của người Việt ở đó chứ chưa xâm nhập vào các hệ thống phân phối lớn của các quốc gia. Bởi vậy, mặc dầu giá trị xuất khẩu tăng nhanh, nhưng chưa có tính vững bền. 

Hiện Bộ NN&PTNT đang tham vấn các đại sứ quán, thương vụ nước ngoài, trước mắt là khối EU và Trung Quốc để xây dựng đề án xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp vững bền, không để tới mùa vụ chúng ta mới thu lượm để xuất khẩu, mà phải khởi tạo được vùng nguyên liệu chuẩn hóa.

Chúng ta phải khởi đầu từ vùng nguyên liệu tại địa phương, người người làm nông chuẩn hóa theo quy trình canh tác và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật thích hợp với yêu cầu của thị trường. Nếu sản phẩm nông nghiệp không sạch thì chế biến cũng không sạch theo. Kể cả các doanh nghiệp, đơn vị logistics cũng phải tham gia vào, để tạo ra giá trị cạnh tranh nhiều hơn.

Khi đề án xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp vững bền được khai triển, tôi nghĩ chúng ta không chỉ xuất khẩu được 48,6 tỉ USD, mà sẽ vượt cao hơn và vững bền.

Linh hoạt sử dụng đất trồng lúa

* Cuối năm 2021, Quốc hội quyết giữ hơn 3,5 triệu hecta đất trồng lúa, trước khi thông qua thì có những tranh luận sẽ không hợp lý giả dụ để ĐBSCL gánh gạo mãi. Là người con ở miền Tây, bộ trưởng có bình luận gì về vấn đề này?

– Quốc hội thông qua nghị quyết quy hoạch sử dụng đất quốc gia tới năm 2030, trong đó có 3,5 triệu hecta đất trồng lúa thì người ta nghĩ ngay tới vùng trồng lúa lớn nhất là ĐBSCL. Tuy nhiên, trong quy hoạch 3,5 triệu hecta đất trồng lúa thì có từ linh hoạt chứ không phải chỉ trồng lúa.

Bộ NN&PTNT khuyến khích sản xuất lúa để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia nhưng cũng khuyến khích những sự chuyển đổi linh hoạt để tạo ra giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích.

Tôi đi thăm một mô hình trồng lúa kết hợp nuôi cá linh ở Đồng Tháp thì chính bà con người làm nông nói nếu làm 3 vụ lúa thu nhập khoảng 50 triệu đồng/năm, nhưng khi chuyển đổi giữa trồng lúa và nuôi cá linh thì thu nhập 250 triệu đồng/năm. 

Mô hình này tương tự như những mô hình lúa tôm ở Cà Mau, Bạc Liêu. Đó là những mô hình tích hợp đa giá trị trên một đơn vị diện tích, nó tạo ra cái xung yếu là sản lượng hay là cái thu nhập của người người làm nông.

Bộ NN&PTNT sẽ chỉ đạo các viện, trường, trung tâm nghiên cứu, từ ngữ, mô hình thực tế của các địa phương để đánh giá một cách toàn diện hơn để chuyển đổi từ sản xuất lúa ở các tỉnh miền Tây trở nên những mô hình xen canh tạo ra giá trị cao hơn.

Bộ trưởng Lê Minh Hoan: Tôi rất ưu tư khi thu nhập người nông dân chưa tương xứng với tăng trưởng - Ảnh 3.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan đã đến khảo sát tình hình sản xuất, tiêu thụ khoai lang tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long – Ảnh: CHÍ HẠNH

* Để duy trì đà tăng trưởng trong năm 2022, ngành nông nghiệp sẽ làm gì để đạt được các mục tiêu đã đề ra, thưa bộ trưởng?

– Ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục làm đậm nét hơn, rõ hơn và sâu sắc hơn về chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Khi chuyển sang tư duy kinh tế nông nghiệp thì một ngành hàng nào đó có thể bị giảm thứ hạng nhưng mang lại giá trị gia tăng và thu nhập thực tế cho người làm nông cao hơn.

Chúng tôi cũng phải giải quyết được bài toán nghịch lý là tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp không đồng nhất với thu nhập của người người làm nông. đáng ra hai đường này phải đi song song nhau nhưng một đường đi nhanh, một đường đi chậm. Đây là điều mà tôi rất ưu tư.

Trong Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn vững bền giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2050 đang được xây dựng sẽ phải giải quyết bài toán tăng trưởng và tăng thu nhập cho người người làm nông phải đi song hành với nhau thì mới mang lại thành tựu “kép”.

Click: Xem thêm

Bo Y te giao 37 benh vien vien tuyen tren

Bộ Y tế giao 37 bệnh viện, viện tuyến trên tiếp thu, điều trị người m…

Thứ Năm, ngày 27/01/2022 14:00 PM (GMT+7)

Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện hữu hảo Việt Đức là 2 trong số 37 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế tiếp thu điều trị người bệnh COVID-19.

Số ca mắc COVID-19 trong nước từ 27/04/2021

Xem thêm số liệu dịch COVID-19 >

Nguồn: Bộ Y tế – Cập nhật lúc 14:48 27/01/2022

STT Tỉnh thành Ca nhiễm mới
bữa qua
Tổng Ca
nhiễm
Ca tử
vong
Ca tử vong
công bố bữa qua
TỔNG +15.885 2.180.679 37.130 155
1 Hà Nội +2.884 117.470 406 19
2 TP.HCM +121 513.091 20.174 8
3 Đà Nẵng +991 28.124 104 5
4 Bắc Ninh +865 22.119 41 6
5 Hải Phòng +702 27.551 39 0
6 Thanh Hóa +587 17.974 11 0
7 Quảng Nam +572 12.479 21 0
8 Bắc Giang +485 13.741 18 0
9 Vĩnh Phúc +465 9.106 8 0
10 Bình Định +433 30.619 113 2
11 Hòa Bình +425 6.794 18 0
12 Quảng Ngãi +396 13.632 34 4
13 Hưng Yên +387 16.368 2 0
14 Hải Dương +370 9.691 12 1
15 Nam Định +360 8.810 9 0
16 Bình Phước +315 44.899 149 3
17 Bến Tre +301 37.129 363 6
18 Quảng Ninh +297 11.433 6 0
19 Nghệ An +294 12.646 37 0
20 Thái Bình +270 6.352 0 0
21 Phú Thọ +270 6.826 9 0
22 Thừa Thiên Huế +255 20.470 126 5
23 Cà Mau +244 55.122 274 2
24 Thái Nguyên +235 6.981 3 0
25 Lâm Đồng +229 15.248 51 0
26 Lào Cai +202 2.818 2 0
27 Kon Tum +192 2.335 0 0
28 Lạng Sơn +154 3.904 12 2
29 Vĩnh Long +153 52.963 668 9
30 Khánh Hòa +145 61.037 275 7
31 Sơn La +140 3.629 0 0
32 Hà Nam +137 5.008 2 0
33 Tây Ninh +136 87.334 812 2
34 Hà Tĩnh +131 2.532 6 0
35 Ninh Bình +121 3.333 11 1
36 Quảng Bình +121 5.770 7 0
37 Quảng Trị +120 4.197 5 0
38 Điện Biên +117 2.083 1 0
39 Bà Rịa – Vũng Tàu +115 31.063 365 7
40 Tuyên Quang +110 3.098 0 0
41 Hà Giang +109 11.512 25 2
42 Yên Bái +100 2.437 0 0
43 Trà Vinh +96 37.631 218 3
44 Bình Thuận +87 29.219 370 4
45 Bình Dương +76 292.493 3.366 0
46 Đắk Nông +69 7.918 21 1
47 Cao Bằng +62 1.589 2 0
48 Hậu Giang +57 15.719 161 4
49 Đồng Tháp +54 47.121 930 6
50 Cần Thơ +44 44.340 851 7
51 Long An +39 41.475 975 0
52 Đồng Nai +39 99.703 1.670 11
53 An Giang +37 35.047 1.283 6
54 Lai Châu +32 917 0 0
55 Ninh Thuận +29 6.834 55 0
56 Kiên Giang +28 32.901 762 7
57 Sóc Trăng +26 32.349 539 5
58 Tiền Giang +26 34.897 1.201 3
59 Bắc Kạn +23 872 3 0
60 Gia Lai +3 9.655 28 0
61 Đắk Lắk +2 15.556 74 2
62 Bạc Liêu 0 34.982 349 5
63 Phú Yên 0 9.733 53 0


Tình hình tiêm chủng vaccine ở Việt Nam

Xem thêm số liệu vaccine COVID-19 >

Nguồn: Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 – Cập nhật lúc 00:00 27/01/2022

Số mũi đã tiêm toàn quốc


Theo quyết định mới nhất của Bộ Y tế, 37 bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế có nhiệm vụ tiếp thu điều trị người bệnh COVID-19

Theo đó, Bộ Y tế giao 37 bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế tiếp thu điều trị người bệnh COVID-19 được phát hiện khi đến khám bệnh hoặc đang trong quá trình điều trị tại bệnh viện.

Bộ Y tế giao 37 bệnh viện, viện tuyến trên tiếp nhận, điều trị người mắc COVID-19 - 1

Bệnh viện Bạch Mai.

Hỗ trợ điều trị người bệnh COVID-19 cho địa phương khi có đề xuất, đảm bảo thích hợp với khả năng tiếp thu và năng lực chuyên môn của bệnh viện.

Danh sách cụ thể 37 bệnh viện, viện trực thuộc Bộ tiếp thu điều trị người bệnh COVID-19.

1. Bệnh viện Bạch Mai

2. Bệnh viện hữu hảo Việt Đức

3. Bệnh viện Trung ương Huế

4. Bệnh viện Chợ Rẫy

5. Bệnh viện E

6. Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

7. Bệnh viện hữu hảo

8. Bệnh viện C Đà Nẵng

9. Bệnh viện Thống Nhất

10. Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam

11. Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ

12. Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương

13. Bệnh viện Nhi Trung ương

14. Bệnh viện K

15. Bệnh viện Lão Khoa Trung ương

16. Bệnh viện Mắt Trung ương

17. Bệnh viện Da liễu Trung ương

18. Bệnh viện Nội tiết Trung ương

19. Bệnh viện Phổi Trung ương

20. Bệnh viện Phụ sản Trung ương

21. Bệnh viện Răng Hàm mặt Trung ương Hà Nội

22. Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương

23. Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1

24. Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2

25. Bệnh viện YHCT Trung ương

26. Bệnh viện Châm cứu Trung ương

27. Bệnh viện 74 Trung ương

28. Bệnh viện Phong-Da liễu Quỳnh Lập

29. Bệnh viện hữu hảo Việt Nam-Cuba Đồng Hới

30. Bệnh viện 71 Trung ương

31. Bệnh viện Điều dưỡng PHCN Trung ương

32. Bệnh viện Phong-Da liễu Quy Hòa

33. Bệnh viện Răng Hàm mặt Trung ương TP. Hồ Chí Minh

34. Viện Huyết học – Truyền máu TW

35. Viện y khoa Biển

36. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

37. Bệnh viện Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.


Nguồn: http://danviet.vn/bo-y-te-giao-37-benh-vien-vien-tuyen-tren-tiep-nhan-dieu-tri-nguoi-mac-covid-1…

Bộ trưởng Y tế: Sẵn sàng ứng phó kịch bản biến chủng mới Omicron làm tăng F0

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long yêu cầu sẵn sàng ứng phó với kịch bản biến chủng mới Omicron làm gia tăng trường…

Click: Xem thêm