Bo Y te yeu cau khong dung thuoc Molnupiravir voi

Bộ Y tế yêu cầu không dùng thuốc Molnupiravir với F0 chưa có triệu chứ…

Bộ Y tế yêu cầu không dùng thuốc Molnupiravir với F0 chưa có triệu chứng - Ảnh 1.

Một số loại thuốc kháng virus Molnupiravir được bán tại nhiều hiệu thuốc khu vực TP.HCM – Ảnh: THU HIẾN

Bộ Y tế vừa ban hành quyết định số 437/QĐ-BYT sửa đổi, bổ sung một số điểm của chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 trước đó.

Theo quyết định mới này, Bộ Y tế nhấn mạnh không dùng thuốc Molnupiravir cho người không có triệu chứng bệnh, đồng thời bổ sung cho phép sử dụng Remdesivir cho trẻ em dưới 12 tuổi.

Không dùng Molnupiravir khi không triệu chứng

Thuốc Molnupiravir chỉ được sử dụng để điều trị COVID-19 nhẹ đến trung bình có chí ít một nhân tố nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng. 

Thuốc dùng trên bệnh nhân có thời gian khởi phát triệu chứng dưới 5 ngày, không sử dụng quá 5 ngày liên tục. Đặc biệt, không sử dụng để dự phòng sau hay trước phơi nhiễm hoặc khi không có triệu chứng.

Ở người mức độ nhẹ, dùng thuốc khi có các triệu chứng: SpO2 lớn hơn 96%, nhịp thở thấp hơn 20 lần/phút. Người mức độ trung bình: SpO2 94 – 96%, nhịp thở 20 – 25 lần/phút, thương tổn trên X-quang nhỏ hơn 50% hoặc người bệnh COVID-19 mức độ nhẹ có bệnh lý nền được coi như mức độ trung bình.

Liều dùng: 800 mg/lần, uống 2 lần/ngày trong 5 ngày.

Molnupiravir không được khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ mang thai. Không khuyến cáo F0 là phụ nữ nuôi con nhỏ cho con bú trong thời gian điều trị và trong 4 ngày sau liều Molnupiravir cuối cùng.

Đồng thời, không được phép sử dụng thuốc cho bệnh nhân dưới 18 tuổi vì có thể liên quan đến sự phát triển của xương và sụn. 

Molnupiravir có thể liên quan đến tinh trùng của nam giới, nên sử dụng một cách thức tránh thai tin cậy trong thời gian điều trị và chí ít 3 tháng sau liều Molnupiravir cuối cùng.

Remdesivir được dùng cho trẻ dưới 12 tuổi

Theo cập nhật chỉ dẫn mới nhất thuốc Remdesivir chỉ dùng cho bệnh nhân nội trú mức độ nhẹ và có chí ít một nhân tố nguy cơ tiến triển nặng hoặc mức độ trung bình và nặng nhưng khởi phát bệnh chưa quá 10 ngày, đồng thời có suy hô hấp phải thở oxy, thở oxy lưu lượng dòng cao (HFNC), hoặc thở máy không xâm nhập. 

Nên kết hợp với corticoid (ưu tiên dexamethason).

Với các trường hợp đã được điều trị bằng Remdesivir trước khi thở máy xâm nhập hoặc ECMO thì có thể tiếp tục dùng Remdesivir cho đủ liệu trình.

Thuốc được cấp phép sử dụng cho trẻ em dưới 12 tuổi, thực hành theo chỉ dẫn chẩn đoán, điều trị COVID-19 ở trẻ em. Người từ 12 tuổi trở lên và cân nặng hơn 40kg: ngày đầu 200mg, những ngày sau 100mg/ngày, truyền tĩnh mạch một lần trong 30 – 120 phút.

Không khuyến cáo sử dụng thuốc với phụ nữ có thai và nuôi con bằng sữa mẹ. Theo dõi người bệnh trong thời gian truyền và trong vòng 1 giờ sau truyền để phát hiện, xử trí kịp thời phản vệ cũng như các phản ứng. 

Ngưng sử dụng thuốc nếu ALT tăng trên 5 lần giới hạn trên thường nhật trong quá trình điều trị.

Bộ Y tế cũng cho biết chưa có đủ thông tin khuyến cáo sử dụng thuốc cho người bệnh có mức lọc cầu thận ước tính eGFR thấp hơn 30 mL/phút.

Click: Xem thêm

Bo Y te chot gia thuoc molnupiravir thap nhat 8675

Bộ Y tế ‘chốt’ giá thuốc molnupiravir thấp nhất 8.675 đồng một viên

Ngày 23/2, Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế, công khai đơn giá ba loại thuốc molnupiravir do Việt Nam sản xuất, loại thấp nhất giá 8.675 đồng/viên.

giải đáp VnExpress, đại diện Cục Quản lý Dược xác nhận thông tin và cho biết đây là hoạt động thường quy về giá thuốc. Thông tin về giá thuốc được đăng tải công khai tại Cổng thông tin Cục Quản lý Dược.

Theo đó, thuốc Molravir 400, thành phần molnupiravir 400 mg, của đơn vị Cổ phần dược phẩm Boston Việt Nam, đơn giá 11.550 đồng một viên. Thuốc Movinavir, thành phần molnupiravir 200 mg, của đơn vị Cổ phần hóa dược phẩm Mekophar giá 8.675 đồng một viên. Thuốc Molnupiravir Stella 400 mg, do đơn vị TNHH Liên doanh Stellapharm – chi nhánh 1, đơn giá 12.500 đồng một viên.

Một hộp thuốc molnupiravir đóng gói 20 viên 400 mg hoặc 40 viên 200 mg đủ cho một liệu trình điều trị. Như vậy, giá thuốc dao động từ 230.000 đến dưới 350.000 một hộp cho liệu trình 5 ngày.

Molnupiravir là thuốc kháng virus đầu tiên được Bộ Y tế cấp phép nguy cấp. Thuốc có tác dụng giảm tải lượng virus trong thân thể, từ đó giảm nguy cơ trở nặng và tử vong. Bộ Y tế đã đưa molnupiravir cùng hai thuốc kháng virus khác là favipiravir, remdesivir vào phác đồ điều trị Covid-19. Theo đó, molnupiravir không được sử dụng quá 5 ngày liên tục, không sử dụng để dự phòng trước hoặc sau khi mắc Covid-19 hoặc điều trị khởi đầu cho bệnh nhân Covid-19 nhập viện. Liều dùng là 1.600 mg một ngày, tương đương 4 viên 400 mg hoặc 8 viên 200 mg.

Trẻ em, bệnh nhân dị ứng với molnupiravir hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc, phụ nữ có thai và đang cho con bú không sử dụng thuốc này. Thuốc có thể liên quan đến thai nhi, tinh trùng, theo cảnh báo của Bộ Y tế.

Chiều cùng ngày, đại diện FPT Long Châu cho biết đã mở bán thuốc molnupiravir, số lượng khoảng 500.000 viên. Nhà thuốc bán 2 trong 3 loại thuốc đã được Bộ Y tế cấp phép, gồm Molravir 400 và Molnupiravir Stella 400 với cùng mức giá 12.500 đồng một viên.

Thuốc molnupiravir sản xuất tại Công ty Boston Việt Nam, ngày 23/2. Ảnh: Quỳnh Trần

Thuốc molnupiravir sản xuất tại đơn vị Boston Việt Nam, ngày 23/2. Ảnh: Quỳnh Trần

Hôm 18/2, cả ba doanh nghiệp sản xuất molnupiravir cho biết có kế hoạch đưa thuốc ra thị trường trong tuần này và phân phối theo hệ thống các nhà thuốc trên cả nước.

Hiện Mekophar đã có sẵn một số nguyên liệu cung cấp từ Ấn Độ, sẽ sản xuất ngay để có thuốc.

đơn vị Stellapharm đã nhập khẩu nguyên liệu sản xuất về cảng và xem lại nhu cầu đặt hàng từ các địa phương để có kế hoạch sản xuất thích hợp. Công suất nhà máy Stellapharm có thể đạt vài triệu liều một lúc nên đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, theo đại diện đơn vị.

Chi Lê

Click: Xem thêm

Bo Y te chi dan moi nhat ve dau hieu

Bộ Y tế chỉ dẫn mới nhất về dấu hiệu, phân loại mức độ bệnh ở trẻ mắ…

Thứ Tư, ngày 23/02/2022 08:19 AM (GMT+7)

Hầu hết trẻ chỉ bị viêm đường hô hấp trên với sốt nhẹ, ho, đau họng, sổ mũi, mỏi mệt; hay viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng 1-2 tuần.

Số ca mắc COVID-19 trong nước từ 27/04/2021

Xem thêm số liệu dịch COVID-19 >

Nguồn: Bộ Y tế – Cập nhật lúc 09:49 23/02/2022

STT Tỉnh thành Ca nhiễm mới
bữa qua
Tổng Ca
nhiễm
Ca tử
vong
Ca tử vong
công bố bữa qua
TỔNG +55.871 2.882.983 39.647 77
1 Hà Nội +6.860 210.883 873 17
2 TP.HCM +1.352 522.142 20.275 1
3 Bắc Ninh +2.842 64.053 98 0
4 Bắc Giang +2.500 32.259 29 0
5 Hải Dương +2.485 38.195 43 0
6 Hòa Bình +2.087 28.738 50 3
7 Quảng Ninh +2.087 32.372 13 0
8 Phú Thọ +2.084 30.609 21 0
9 Lào Cai +2.056 16.480 12 0
10 Nam Định +1.943 36.587 50 2
11 Vĩnh Phúc +1.811 45.330 14 0
12 Hải Phòng +1.798 55.468 106 2
13 Ninh Bình +1.665 20.132 40 1
14 Thái Nguyên +1.645 31.141 26 0
15 Sơn La +1.494 14.836 0 0
16 Nghệ An +1.441 38.925 72 6
17 Hưng Yên +1.312 28.716 2 0
18 Yên Bái +1.290 12.524 6 0
19 Thái Bình +1.282 20.346 9 1
20 Khánh Hòa +1.213 68.320 315 2
21 Thanh Hóa +995 37.595 50 8
22 Đắk Lắk +989 23.426 92 3
23 Quảng Nam +976 27.852 58 0
24 Đà Nẵng +946 50.691 215 3
25 Tuyên Quang +845 11.904 5 0
26 Bình Định +835 45.698 194 4
27 Lạng Sơn +765 13.926 33 0
28 Hà Tĩnh +690 9.821 7 0
29 Cao Bằng +649 6.106 12 1
30 Lâm Đồng +630 23.535 83 2
31 Quảng Bình +567 15.443 24 0
32 Điện Biên +499 6.191 3 0
33 Quảng Trị +494 11.262 12 0
34 Gia Lai +461 14.339 44 1
35 Bà Rịa – Vũng Tàu +441 35.411 454 0
36 Bình Phước +429 51.647 184 2
37 Lai Châu +388 3.697 0 0
38 Hà Nam +380 10.490 13 0
39 Cà Mau +351 58.739 290 0
40 Phú Yên +316 15.437 76 4
41 Thừa Thiên Huế +237 26.003 167 0
42 Bắc Kạn +233 2.862 5 0
43 Đắk Nông +232 12.511 33 0
44 Hà Giang +181 14.540 38 0
45 Kon Tum +157 5.484 0 0
46 Bình Thuận +155 31.008 422 1
47 Quảng Ngãi +135 17.810 79 1
48 Bình Dương +132 294.324 3.395 0
49 Tây Ninh +113 88.991 841 0
50 Bến Tre +64 42.943 419 1
51 Bạc Liêu +50 36.280 382 0
52 Đồng Tháp +47 47.837 1.002 1
53 Cần Thơ +46 44.833 912 1
54 Vĩnh Long +40 54.464 784 3
55 Đồng Nai +37 100.521 1.756 0
56 Trà Vinh +37 38.605 238 0
57 Long An +27 42.008 988 0
58 Kiên Giang +17 34.187 875 4
59 Ninh Thuận +14 7.131 56 0
60 An Giang +9 35.427 1.323 0
61 Sóc Trăng +9 32.654 589 2
62 Hậu Giang +6 16.225 202 0
63 Tiền Giang 0 35.069 1.238 0


Tình hình tiêm chủng vaccine ở Việt Nam

Xem thêm số liệu vaccine COVID-19 >

Nguồn: Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 – Cập nhật lúc 00:00 22/02/2022

Số mũi đã tiêm toàn quốc


Ngày 22/2, Bộ Y tế ban hành Quyết định 405/QĐ-BYT về việc ban hành chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 ở trẻ em. chỉ dẫn này thay thế Quyết định số 5155/QĐ-BYT ngày 8-11-2021 của Bộ Y tế về chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 ở trẻ em.

Bộ Y tế hướng dẫn mới nhất về dấu hiệu, phân loại mức độ bệnh ở trẻ mắc COVID-19 - 1

Trẻ mắc COVID-19 (Ảnh minh họa).

Theo Bộ Y tế, triệu chứng lâm sàng của bệnh nhi mắc COVID-19 như sau: Thời gian ủ bệnh từ 2 đến 14 ngày, trung bình là 4 – 5 ngày; có một hay nhiều triệu chứng như: Sốt, mỏi mệt, đau đầu, ho khan, đau họng, nghẹt mũi/sổ mũi, mất vị giác/khứu giác, nôn và tiêu chảy, đau cơ. Tuy nhiên, phần lớn trẻ mắc COVID-19 không triệu chứng hoặc nhẹ với triệu chứng viêm hô hấp trên hoặc tiêu hóa (chiếm 55%), trung bình (chiếm 40%), nặng (4%), nguy kịch (0,5%). Trẻ nhũ nhi < 12 tháng tuổi có nguy cơ cao diễn tiến nặng.

Hầu hết trẻ chỉ bị viêm đường hô hấp trên với sốt nhẹ, ho, đau họng, sổ mũi, mỏi mệt; hay viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng 1-2 tuần. Khoảng 2% trẻ có diễn tiến nặng, thường vào ngày thứ 5 đến ngày thứ 8 của bệnh. Trong đó, một số trẻ (khoảng 0,7%) cần điều trị tại các đơn vị hồi sức hăng hái với các biến chứng nặng như: Hội chứng nguy kịch hô hấp cấp (ARDS), viêm cơ tim, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm trùng và hội chứng viêm đa hệ thống (MIS-C). Tỷ lệ tử vong ở trẻ rất thấp (< 0,1%), hầu hết tử vong do bệnh nền.

Riêng đối với trẻ sơ sinh mắc COVID-19 thường không triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ và không đặc hiệu như: Sốt, ho, bú kém, nôn, tiêu chảy, trẻ li bì, khóc yếu, thở nhanh, có cơn ngừng thở, tím tái khi nặng. Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm SARS-CoV-2 sớm ở trẻ sơ sinh được thực hành trong vòng 24 giờ sau sinh và sau khi được kề da chí ít 90 phút và hoàn thành cữ bú đầu tiên trên ngực mẹ; nếu kết quả xét nghiệm âm tính, thực hành lại xét nghiệm sau 48-72 giờ.

Phân loại các mức độ bệnh ở trẻ

Trẻ nhiễm không có triệu chứng: Là những trẻ được chẩn đoán xác định nhiễm COVID-19 nhưng không có bất kỳ thể hiện lâm sàng nào.

– Mức độ nhẹ:

+ Triệu chứng không điển hình: Sốt, đau họng, ho, chảy mũi, tiêu chảy, nôn, đau cơ, ngạt mũi, mất khứu/vị giác, không có triệu chứng của viêm phổi.

+ Nhịp thở thường nhật theo tuổi.

+ Không có thể hiện của thiếu ô xy, SpO2 ≥  96% khi thở khí trời.

+ Thần kinh: Trẻ tỉnh táo, sinh hoạt thường nhật, bú mẹ/ăn/uống thường nhật.

+ X-quang phổi thường nhật.

“Với trẻ có bệnh nền: Béo phì, bệnh phổi mãn, suy thận mãn, gan mật, dùng corticoid kéo dài, suy giảm miễn dịch, tim bẩm sinh…, cần theo dõi sát vì dễ diễn biến nặng”, Bộ Y tế lưu ý.

– Mức độ trung bình: Có triệu chứng viêm phổi nhưng không có các dấu hiệu của viêm phổi nặng và rất nặng: Thở nhanh: Trẻ < 2 tháng tuổi: ≥ 60 lần/phút; trẻ từ 2-11 tháng: ≥ 50 lần/phút; trẻ từ 1-5 tuổi: ≥ 40 lần/phút. Ngoài ra, SpO2: 94% – 95% khi thở khí trời. Trẻ tỉnh táo, mệt, ăn, bú và uống ít hơn. X-quang phổi có thương tổn dạng mô kẽ, kính mờ (thường 2 đáy phổi).

– Mức độ nặng:  Trẻ có triệu chứng viêm phổi nặng, chưa có dấu hiệu hiểm nguy đe dọa tính mệnh: Thở nhanh theo tuổi (≥ 1 tuổi) kèm dấu hiệu co rút lồng ngực hoặc thở rên (trẻ < 2 tháng tuổi), phập phồng cánh mũi. Ngoài ra, trẻ khó chịu, quấy khóc, bú, ăn và uống khó; SpO2: 90% đến dưới 94%; X-quang phổi có thương tổn dạng mô kẽ, kính mờ lan tỏa ≥ 50% phổi.

– Mức độ nguy kịch:  Suy hô hấp nặng SpO2 < 90% khi thở khí trời, cần đặt nội khí quản thông khí xâm nhập. Ngoài ra, có dấu hiệu hiểm nguy đe dọa tính mệnh: Thở bất thường, rối loạn nhịp thở; ý thức giảm, khó đánh thức hoặc hôn mê; trẻ bỏ bú/ăn hoặc không uống được; hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS); huyết áp tụt, sốc, sốc nhiễm trùng, lactat máu > 2 mmol/L; suy đa tạng; cơn bão cytokine (thủ phạm gây biến chứng nặng ở người nhiễm COVID-19).


Nguồn: http://danviet.vn/bo-y-te-huong-dan-moi-nhat-ve-dau-hieu-phan-loai-muc-do-benh-o-tre-mac-covid-1…

Bác sĩ Nhi khoa lưu ý khi chăm sóc trẻ mắc COVID-19 tại nhà

Dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp và gia tăng số lượng người mắc trong đó có nhiều trẻ em. BS. Đào Trường Giang, chuyên khoa Nhi, bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội tham vấn…

Click: Xem thêm

Bo Y te cho phep giam thoi gian cach ly

Bộ Y tế cho phép giảm thời gian cách ly F1 tại nhà-Sức khỏe đời sống

Thứ Hai, ngày 21/02/2022 16:34 PM (GMT+7)

Với những F1 tiêm 2 mũi vắc-xin COVID-19 chỉ cách ly 5 ngày, xét nghiệm 1 lần.

Số ca mắc COVID-19 trong nước từ 27/04/2021

Xem thêm số liệu dịch COVID-19 >

Nguồn: Bộ Y tế – Cập nhật lúc 17:32 21/02/2022

STT Tỉnh thành Ca nhiễm mới
bữa qua
Tổng Ca
nhiễm
Ca tử
vong
Ca tử vong
công bố bữa qua
TỔNG +47.192 2.780.251 39.466 78
1 Hà Nội +5.102 198.546 821 0
2 TP.HCM +849 519.993 20.272 0
3 Bắc Ninh +2.360 58.629 98 1
4 Phú Thọ +1.981 26.617 20 1
5 Quảng Ninh +1.980 28.387 13 0
6 Thái Nguyên +1.838 27.634 23 2
7 Hòa Bình +1.797 24.869 47 2
8 Nam Định +1.754 32.929 45 1
9 Hải Phòng +1.698 51.963 102 3
10 Vĩnh Phúc +1.692 41.785 14 0
11 Ninh Bình +1.556 16.783 37 5
12 Bắc Giang +1.500 28.137 29 0
13 Nghệ An +1.467 36.065 66 7
14 Lào Cai +1.360 13.243 11 0
15 Hải Dương +1.316 33.895 40 2
16 Hà Tĩnh +1.294 8.442 7 0
17 Yên Bái +1.275 9.954 6 0
18 Thanh Hóa +1.220 35.343 42 1
19 Bình Định +1.019 44.021 187 4
20 Thái Bình +1.015 17.961 8 0
21 Sơn La +1.007 12.482 0 0
22 Tuyên Quang +989 10.226 5 0
23 Quảng Bình +861 14.098 20 4
24 Lạng Sơn +808 12.462 33 0
25 Hưng Yên +789 26.605 2 0
26 Đắk Lắk +748 21.717 86 2
27 Đà Nẵng +720 48.838 209 7
28 Quảng Nam +697 26.034 54 0
29 Khánh Hòa +590 66.511 312 1
30 Cao Bằng +564 4.983 10 1
31 Phú Yên +553 14.649 71 3
32 Lâm Đồng +435 22.428 78 3
33 Quảng Trị +415 10.455 12 0
34 Đắk Nông +362 11.961 31 0
35 Điện Biên +358 5.254 3 2
36 Bình Phước +348 50.853 182 1
37 Lai Châu +332 3.095 0 0
38 Hà Nam +290 9.781 11 0
39 Bà Rịa – Vũng Tàu +288 34.594 453 1
40 Gia Lai +286 13.878 43 2
41 Thừa Thiên Huế +224 25.521 167 0
42 Bình Dương +215 293.968 3.395 0
43 Bắc Kạn +190 2.507 5 0
44 Kon Tum +143 5.175 0 0
45 Hà Giang +139 14.208 37 1
46 Quảng Ngãi +130 17.557 77 3
47 Cà Mau +105 58.184 290 2
48 Bình Thuận +85 30.755 420 1
49 Kiên Giang +66 34.094 867 5
50 Tây Ninh +64 88.815 841 0
51 Bạc Liêu +63 36.197 382 3
52 Đồng Nai +53 100.476 1.754 0
53 Vĩnh Long +35 54.412 777 0
54 Bến Tre +33 42.838 418 0
55 Trà Vinh +29 38.530 236 1
56 Cần Thơ +22 44.773 911 2
57 An Giang +22 35.414 1.318 0
58 Sóc Trăng +13 32.634 585 2
59 Ninh Thuận +12 7.105 56 0
60 Đồng Tháp +12 47.741 999 1
61 Long An +10 41.968 988 1
62 Hậu Giang +8 16.216 202 0
63 Tiền Giang +6 35.063 1.238 0


Tình hình tiêm chủng vaccine ở Việt Nam

Xem thêm số liệu vaccine COVID-19 >

Nguồn: Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 – Cập nhật lúc 00:00 20/02/2022

Số mũi đã tiêm toàn quốc


Chiều 21/2, Bộ Y tế có công văn gửi Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thủ trưởng các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế về việc cách ly y tế đối với F0 và các trường hợp tiếp xúc gần (F1).

Công văn này thay thế Công văn số 10696/BYT-MT ngày 16/12/2021 của Bộ Y tế về việc cách ly y tế cho trường hợp F1 đã tiêm đủ liều vắc-xin hoặc đã khỏi bệnh COVID-19. Tại công văn này, F1 tiêm đủ mũi vắc-xin phải cách ly tế 7 ngày tại nhà, nơi tạm cư, tự theo dõi sức khỏe trong 7 ngày tiếp theo. Ngoài ra, thực hành xét nghiệm 2 lần (lần 1 khi khởi đầu thực hành cách ly, lần 2 vào ngày thứ 7).

Nóng: Bộ Y tế cho phép giảm thời gian cách ly F1 tại nhà - 1

(Ảnh minh họa).

Việc ban hành công văn mới này được Bộ Y tế căn cứ vào tình hình dịch bệnh hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam, tỷ lệ bao phủ vắc-xin cao trên phạm vi toàn quốc, nhằm hài hòa giữa việc phát triển kinh tế và kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 tại các cơ quan, xí nghiệp, trường học, địa phương.

Bộ Y tế yêu cầu Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành; Thủ trưởng các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế tổ chức việc cách ly y tế với F0 và F1 phù hợp với điều kiện và nguồn lực của các địa phương.

Theo đó, với F1 đã tiêm đủ ít nhất 2 liều vắc-xin phòng COVID-19, liều cuối cùng tiêm trong thời gian ít nhất 14 ngày hoặc đã khỏi bệnh COVID-19 trong vòng 3 tháng tính đến thời điểm được xác định là đối tượng F1 thì thực hiện cách ly y tế 5 ngày tại nhà, nơi lưu trú hoặc các khu vực đủ điều kiện cách ly khác kể từ ngày phơi nhiễm cuối cùng.

F1 cần thực hiện xét nghiệm vào ngày cách ly thứ 5 do nhân viên y tế thực hiện hoặc người cách ly tự thực hiện dưới sự giám sát của nhân viên y tế bằng ít nhất một trong các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp qua các phương tiện từ xa.

Nếu kết quả âm tính thì tiếp tục tự theo dõi sức khoẻ trong 5 ngày tiếp theo và nghiêm túc thực hiện Thông điệp 5K.

F1 chưa tiêm đủ liều hoặc chưa tiêm vắc-xin phòng COVID-19 thì thực hiện cách ly 7 ngày tại nhà, nơi lưu trú hoặc các khu vực đủ điều kiện cách ly khác kể từ ngày phơi nhiễm cuối cùng.

F1 này thực hiện xét nghiệm vào ngày cách ly thứ 7. Nếu kết quả âm tính thì tiếp tục tự theo dõi sức khoẻ trong 3 ngày tiếp theo và nghiêm túc thực hiện Thông điệp 5K.

Trong quá trình cách ly, nếu F1 có dấu hiệu bất thường về sức khỏe (sốt; ho; đau họng; chảy nước mũi, nghẹt mũi; đau người, mệt mỏi, ớn lạnh; giảm hoặc mất vị giác; giảm hoặc mất khứu giác; đau, nhức đầu; tiêu chảy; khó thở; viêm đường hô hấp) thì báo cho cơ quan y tế để theo dõi, xét nghiệm và xử trí theo quy định.


Nguồn: http://danviet.vn/nong-bo-y-te-cho-phep-giam-thoi-gian-cach-ly-f1-tai-nha-502022212163510388.htm

Danh mục những loại thuốc điều trị cho F0 tại nhà

Theo chỉ dẫn quản lý người mắc COVID-19 tại nhà của Bộ Y tế, F0 cần lưu ý về danh mục các thuốc điều trị.

Click: Xem thêm

Bo Y te de xuat can nhac bo sung quy

Bộ Y tế đề xuất cân nhắc, bổ sung quy định mở lại karaoke, vũ trường

Ngày 14-2, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn có công văn 628 giải đáp Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch cho ý kiến về dự thảo Công văn tổ chức hoạt động mua bán dịch vụ karaoke , vũ trường (theo công văn số 353/BVHTTDL-VHCS ngày 28-1).

Để đảm bảo công tác phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe người dân, Bộ Y tế đề xuất Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch cân nhắc bổ sung vào nội dung dự thảo công văn một số nội dung.

Theo Bộ Y tế, việc hoạt động trở lại các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường cần căn cứ trên kết quả đánh giá cấp độ dịch bệnh tại mỗi địa phương, khu vực có hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường.

Bộ Y tế đề nghị cân nhắc, bổ sung quy định mở lại karaoke, vũ trường - Ảnh 1.

Vũ trường, quán bar trên địa bàn TP HCM được phép hoạt động trở lại từ ngày 10-1. Ảnh: NLĐO

Ngoài ra, nơi thực hành hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường thường là nơi có không gian kín nên dễ xảy ra lây nhiễm Covid-19. Do vậy, theo góp ý của Bộ Y tế, khi hoạt động trở lại cần tăng cường các biện pháp vệ sinh, phòng chống lây nhiễm tại khu vực cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường (khử khuẩn, thông khí,…).

Lưu ý với người tham gia cần thực hành nghiêm 5K, tiêm phòng vắc-xin Covid-19 đủ liều, không cung cấp dịch vụ cho người đang có các triệu chứng mắc Covid-19 (ho, sốt…).

Cũng theo ý kiến của Bộ Y tế, địa phương, nơi cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường cần có kế dự phòng, đáp ứng với các tình huống dịch bệnh có thể xẩy ra trong khu vực cung cấp dịch vụ để khoanh vùng gọn, không để lây lan rộng ra cộng đồng (nếu ghi nhận ổ dịch).

Trước đó, Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch có dự thảo công văn gửi UBND các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương về tổ chức các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường sau thời gian tạm đóng cửa phòng dịch Covid-19.

Theo đó, cơ quan này đề xuất UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục khai triển có hiệu quả Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19-6-2019 của Chính phủ quy định về mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường.

Xây dựng phương án cho phép các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường được hoạt động trở lại khi đảm bảo các điều kiện về phòng, chống dịch bệnh Covid-19, an ninh trật tự và phòng, chống cháy nổ.

Bộ này cũng đề xuất các tỉnh, thành tổ chức khai triển phương án kiểm tra, rà soát, thẩm định và chỉ cho phép hoạt động đối với cơ sở mua bán đáp ứng đủ điều kiện và kịp thời điều chỉnh hoạt động của các đơn vị thích hợp với cấp độ dịch ở địa phương…

Tăng cường công tác thanh tra, quản lý, chỉnh đốn, xử lý các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường không chấp hành các quy định phòng, chống dịch.

Bộ Y tế đề nghị cân nhắc, bổ sung quy định mở lại karaoke, vũ trường - Ảnh 2.



Click: Xem thêm

Bo Y te luu y cac yeu cau phong dich

Bộ Y tế lưu ý các yêu cầu phòng dịch để mở lại karaoke, vũ trường

Bộ Y tế lưu ý các yêu cầu phòng dịch để mở lại karaoke, vũ trường - Ảnh 1.

viên chức một quán karaoke tại TP.HCM tất bật lau chùi để đón khách sau khi được mở cửa trở lại – Ảnh: NGỌC PHƯỢNG

Ngày 14-2, Bộ Y tế vừa có công văn giải đáp công văn số 353/BVHTTDL-VHCS ngày 28-1 về việc góp ý dự thảo công văn tổ chức hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường của Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch.

Theo đó, để đảm bảo công tác phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe người dân, Bộ Y tế yêu cầu Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch cân nhắc bổ sung vào nội dung dự thảo công văn một số nội dung sau:

1. Việc hoạt động trở lại các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường cần căn cứ trên kết quả đánh giá cấp độ dịch bệnh tại mỗi địa phương, khu vực có hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường. 

2. Nơi thực hành hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường thường là nơi có không gian kín nên dễ xảy ra lây nhiễm COVID-19. Do vậy, khi hoạt động trở lại cần tăng cường các biện pháp vệ sinh, phòng chống lây nhiễm tại khu vực cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường (khử khuẩn, thông khí…). 

Lưu ý, với người tham gia cần thực hành nghiêm 5K, tiêm phòng vắc xin đủ liều, không cung cấp dịch vụ cho người đang có các triệu chứng mắc COVID-19 (ho, sốt…). 

3. Địa phương, nơi cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường cần có kế hoạch dự phòng, đáp ứng với các tình huống dịch bệnh có thể xảy ra trong khu vực cung cấp dịch vụ để khoanh vùng gọn, không để lây lan rộng ra cộng đồng (nếu ghi nhận ổ dịch).

Hiện nhiều địa phương đã cho phép karaoke, vũ trường được hoạt động, riêng Hà Nội vẫn chưa mở các hoạt động này sau gần 10 tháng đóng cửa. 

Mới đây, hàng loạt chủ quán karaoke ở Hà Nội đã có đơn gửi cơ quan chức năng mong được sớm hoạt động trở lại.

Trước đó, vào tháng 1-2022, Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch dự thảo công văn gửi UBND các tỉnh, TP trực thuộc trung ương về tổ chức các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường sau thời gian tạm đóng cửa phòng dịch COVID-19.

Theo đó, để tháo gỡ khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường sau gần 2 năm ngưng trệ vì COVID-19, đồng thời thống nhất tổ chức các hoạt động dịch vụ này trên toàn quốc, thích hợp với tình hình diễn biến của dịch COVID-19, bộ này yêu cầu UBND các tỉnh, thành thực hành một số nội dung sau:

Xây dựng phương án cho phép các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường được hoạt động trở lại khi đảm bảo các điều kiện về phòng, chống dịch bệnh COVID-19, an ninh trật tự và phòng, chống cháy nổ.

Tổ chức khai triển phương án kiểm tra, rà soát, thẩm định và chỉ cho phép hoạt động đối với cơ sở mua bán đáp ứng đủ điều kiện và kịp thời điều chỉnh hoạt động của các đơn vị thích hợp với cấp độ dịch ở địa phương.

Ngoài ra, yêu cầu các chủ cơ sở mua bán thực hành các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 theo chỉ dẫn của ngành y tế về phòng, chống lây nhiễm dịch COVID-19 tại cơ sở mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường.

Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, quản lý, chỉnh đốn, xử lý các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường không chấp hành các quy định phòng, chống dịch.

Click: Xem thêm

Bo Y te Israel khuyen nghi nen ngoay hong song

Bộ Y tế Israel khuyến nghị nên ngoáy họng song song với ngoáy mũi khi …

Trong khi đó, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), cho biết vẫn nên tuân theo chỉ dẫn của nhà sản xuất vì họ lo ngại ngoáy họng không đúng cách có thể không an toàn cho người dùng.

Bộ Y tế Israel khuyến nghị nên ngoáy họng song song với ngoáy mũi khi test nhanh - ảnh 1

Bộ Y tế Israel khuyến nghị nên ngoáy họng khi làm test nhanh tại nhà

Tiến sĩ Sharon Alroy-Preis, Bộ trưởng Y tế Israel, cho biết các xét nghiệm test nhanh ít nhạy hơn so với xét nghiệm PCR trong việc phát hiện biến thể Omicron.

Bà Sharon Alroy-Preis nói: “Để tăng độ nhạy trong việc phát hiện biến thể Omicron, chúng tôi khuyên bạn từ nay nên ngoáy họng song song với ngoáy mũi. Đó không phải là điều nhà sản xuất chỉ dẫn nhưng chúng tôi khuyên nên làm điều này”.

Bộ Y tế Israel sau đó đã ban hành chỉ dẫn nói rằng gạc nên được lấy mẫu từ cổ họng và sau đó từ mũi.

Điều này có khả năng cải thiện độ tin cậy của xét nghiệm, Giáo sư Salman Zarka, điều phối viên ứng phó với đại dịch Covid-19 của Israel, nói trong một cuộc họp báo, đồng thời cho biết Bộ sẽ công bố một video chỉ dẫn cách sử dụng cách thức mới này.

Giáo sư Zarka cho biết Bộ Y tế đã chuyện trò với các đơn vị cung cấp bộ công cụ thí nghiệm trước khi đưa ra khuyến nghị mới.

Bản tin Covid-19 ngày 12.1: Cả nước 28.291 ca | Miền Tây có ca nhiễm biến chủng Omicron đầu tiên

n

Làm test nhanh 1 lần có thể chưa đủ

Với việc Omicron lây lan nhanh, các quan chức y tế Israel đã ưu tiên các nhóm nguy cơ cao được xét nghiệm PCR, còn những người trẻ tuổi hơn đã tiêm chủng sẽ làm test nhanh tại nhà nếu tiếp xúc với Covid-19.

Tiến sĩ Alroy-Preis cho biết, khi tiếp xúc với người bệnh, mọi người nên thực hành nhiều hơn 1 lần test nhanh hoặc đợi 3 ngày sau khi tiếp xúc rồi mới làm test nhanh, theo Reuters.

Bộ Y tế Israel khuyến nghị nên ngoáy họng song song với ngoáy mũi khi test nhanh - ảnh 2

Một số chuyên gia về bệnh lây truyền đã ủng hộ test nhanh bằng ngoáy họng

Một số chuyên gia về bệnh lây truyền đã ủng hộ test nhanh bằng ngoáy họng vì người bệnh có thể lây truyền Omicron cho người khác khi virus mới lây nhiễm vào họng và nước miếng nhưng chưa đến mũi.

Nghiên cứu được công bố vào hôm 5.1 đã cho thấy xét nghiệm PCR từ nước miếng phát hiện virus sớm hơn trung bình 3 ngày trước khi các mẫu ngoáy mũi test nhanh cho kết quả dương tính.

Tuy nhiên, FDA đã khuyến cáo, loại test nhanh tại nhà được thiết kế cho gạc mũi chứ không phải cổ họng. Nếu sử dụng không đúng cách, có thể gây hại cho bệnh nhân, theo Reuters.



Click: Xem thêm

Bo Y te ban hanh chi dan moi nhat ve

Bộ Y tế ban hành chỉ dẫn mới nhất về triệu chứng lâm sàng của người …

Thứ Tư, ngày 06/10/2021 20:30 PM (GMT+7)

chỉ dẫn “Chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng virus SARS-CoV-2” cho biết, thời gian ủ bệnh từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày, thể delta có thời gian ủ bệnh ngắn hơn.

Số ca mắc COVID-19 trong nước từ 27/04/2021

Xem thêm số liệu dịch COVID-19 >

Nguồn: Bộ Y tế – Cập nhật lúc 00:30 07/10/2021

STT Tỉnh thành Ca nhiễm mới
bữa nay
Tổng Ca
nhiễm
Ca tử
vong
Ca tử vong
công bố bữa nay
TỔNG +4.356 818.091 20.063 119
1 TP.HCM +1.960 403.454 15.302 88
2 Bình Dương +852 218.812 2.115 16
3 Đồng Nai +534 52.551 505 2
4 An Giang +180 5.899 77 2
5 Kiên Giang +79 6.012 65 1
6 Long An +74 32.942 434 2
7 Tiền Giang +72 14.303 376 2
8 Bình Thuận +60 3.658 63 0
9 Đắk Lắk +58 2.067 7 0
10 Trà Vinh +52 1.544 17 0
11 Đồng Tháp +47 8.443 259 2
12 Khánh Hòa +47 8.046 99 0
13 Cần Thơ +44 5.855 110 1
14 Tây Ninh +41 7.890 134 2
15 Bạc Liêu +32 505 3 0
16 Hà Nam +25 603 0 0
17 Cà Mau +22 482 9 0
18 Bến Tre +21 1.952 70 0
19 Vĩnh Long +20 2.234 59 0
20 Gia Lai +20 594 3 0
21 Bình Định +18 1.348 13 1
22 Bà Rịa – Vũng Tàu +17 4.254 49 0
23 Ninh Thuận +14 1.050 8 0
24 Hà Nội +9 4.259 56 0
25 Quảng Nam +8 629 5 0
26 Quảng Bình +7 1.729 5 0
27 Quảng Ngãi +7 1.247 4 0
28 Đắk Nông +7 735 1 0
29 Thừa Thiên Huế +5 831 11 0
30 Nghệ An +5 1.887 17 0
31 Bình Phước +5 1.421 8 0
32 Kon Tum +4 43 0 0
33 Nam Định +2 66 1 0
34 Thanh Hóa +2 450 4 0
35 Phú Yên +1 3.059 34 0
36 Đà Nẵng +1 4.924 73 0
37 Hà Tĩnh +1 457 5 0
38 Ninh Bình +1 81 0 0
39 Lạng Sơn +1 213 1 0
40 Sơn La +1 253 0 0
41 Hòa Bình 0 16 0 0
42 Thái Nguyên 0 15 0 0
43 Hải Phòng 0 27 0 0
44 Điện Biên 0 61 0 0
45 Hà Giang 0 28 0 0
46 Yên Bái 0 3 0 0
47 Vĩnh Phúc 0 234 3 0
48 Quảng Ninh 0 15 0 0
49 Bắc Kạn 0 5 0 0
50 Lai Châu 0 1 0 0
51 Tuyên Quang 0 2 0 0
52 Hải Dương 0 172 1 0
53 Bắc Giang 0 5.839 14 0
54 Lâm Đồng 0 292 0 0
55 Quảng Trị 0 282 1 0
56 Hậu Giang 0 604 2 0
57 Phú Thọ 0 49 0 0
58 Sóc Trăng 0 1.292 25 0
59 Thái Bình 0 76 0 0
60 Hưng Yên 0 296 1 0
61 Bắc Ninh 0 1.896 14 0
62 Lào Cai 0 104 0 0


Tình hình tiêm chủng vaccine ở Việt Nam

Xem thêm số liệu vaccine COVID-19 >

Nguồn: Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 – Cập nhật lúc 00:00 06/10/2021

Số mũi đã tiêm toàn quốc


Ngày 6/10, Bộ Y tế ban hành “chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19”. chỉ dẫn mới nhất này sẽ thay thế chỉ dẫn do Bộ Y tế ban hành hồi tháng 7/2021.

Về triệu chứng lâm sàng của người mắc COVID-19

chỉ dẫn “Chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng virus SARS-CoV-2” cho biết, thời gian ủ bệnh từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày, thể delta có thời gian ủ bệnh ngắn hơn.

Bộ Y tế ban hành hướng dẫn mới nhất về triệu chứng lâm sàng của người mắc COVID-19 - 1

Bệnh nhân đang điều trị COVID-19 tại bệnh viện. 

Ở giai đoạn khởi phát: Chủng alpha có các biểu hiiện sốt, ho khan, mệt mỏi, đau họng, đau đầu. Một số trường hợp bị nghẹt mũi, chảy nước mũi, mất vị giác và khứu giác, buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng…

Chủng mới (delta): đau đầu, đau họng, chảy nước mũi, ho, sốt, tiêu chảy, khó thở, đau cơ.

Diễn biến:

– Đối với thể alpha, 80% bệnh nhân COVID-19 có triệu chứng nhẹ, 20% bệnh nhân diễn biến nặng và diễn biến nặng thường khoảng 5-10 ngày và 5% cần phải điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực với biểu hiện suy hô hấp cấp, tổn thương phổi do COVID-19, tổn thương vi mạch gây huyết khối và tắc mạch, viêm cơ tim, sốc nhiễm trùng, suy chức năng cơ quan bao gồm tổn thương thận cấp, tổn thương não, tổn thương tim và dẫn đến tử vong.

– Đối với thể delta, tỉ lệ nhập viện cấp cứu 5,7% (cao hơn 4.2% alpha), tỉ lệ nhập viện, nhập ICU và tử vong tăng hơn trước. Ngoài ra chủng delta liên quan đến tăng mức độ nặng của bệnh biểu hiện bởi tăng nhu cầu oxy, nhập ICU hoặc tử vong so với những chủng khác. Ngoài ra chủng delta có tải lượng vi rút cao hơn 1.260 lần so với 19A/19B và khả năng lây cao hơn 15-20% so với chủng khác.

Giai đoạn hồi phục của bệnh nhân COVID-19

– Đối với trường hợp nhẹ và trung bình, sau 7-10 ngày, bệnh nhân hết sốt, toàn trạng khá lên, tổn thương phổi tự hồi phục, có thể gặp mệt mỏi kéo dài.

– Những trường hợp nặng: Biểu hiện lâm sàng kéo dài, hồi phục từ 2-3 tuần, mệt mỏi kéo dài đến hàng tháng.

– Những trường hợp nguy kịch có thể phải nằm hồi sức kéo dài nhiều tháng, có thể tiến triển xơ phổi, ảnh hưởng tâm lý, yếu cơ kéo dài.

– Một số trường hợp sau nhiễm SARS-CoV-2, gặp các rối loạn kéo dài: bệnh lý tự miễn, hội chứng thực bào…

Về thuốc điều trị cho bệnh nhân COVID-19

– Nếu là thuốc chưa được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng, chưa được cấp phép lưu hành, chưa được cấp phép sử dụng khẩn cấp tại bất kỳ nước nào trên thế giới, việc sử dụng phải tuân thủ các quy định về thử nghiệm lâm sàng của Bộ Y tế.

– Nếu là thuốc đã được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng hoặc được cấp phép lưu hành, hoặc được cấp phép sử dụng khẩn cấp tại ít nhất 1 nước trên thế giới thì có thể được chỉ định điều trị theo diễn biến bệnh lý của người bệnh (ví dụ: thuốc remdesivir, favipiravir,…).

Tiêu chuẩn xuất viện của bệnh nhân COVID-19

Đối với các trường hợp không có triệu chứng lâm sàng trong suốt thời gian điều trị được ra viện khi đã được cách ly điều trị tại cơ sở thu dung, điều trị COVID- 19 tối thiểu 10 ngày và có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp real-time RT-PCR âm tính với SARS-CoV-2 hoặc nồng độ vi rút thấp (Ct ≥ 30) vào ngày thứ 9.

Đối với các trường hợp có triệu chứng lâm sàng được ra viện khi đủ các điều kiện sau: Được cách ly điều trị tại cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 tối thiểu 14 ngày; Các triệu chứng lâm sàng hết trước ngày ra viện từ 3 ngày trở lên; Có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp real-time RT-PCR âm tính với SARS-CoV-2 hoặc nồng độ vi rút thấp (Ct ≥ 30) vào trước ngày ra viện.

Đối với các trường hợp cách ly điều trị trên 10 ngày và có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp real-time RT-PCR nhiều lần có nồng độ vi rút CT< 30 được ra viện đủ các điều kiện sau: Đã được cách ly điều trị tại cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 đủ 21 ngày tính từ ngày có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2; Các triệu chứng lâm sàng hết trước ngày ra viện từ 3 ngày trở lên.

Người được ra viện sẽ được giám sát tại nhà bởi y tế cơ sở và CDC địa phương. Người bệnh sau khi ra viện cần ở tại nhà và tự theo dõi trong 7 ngày (chỉ dẫn trước là cách ly 14 ngày). Đo thân nhiệt 2 lần/ngày. Nếu thân nhiệt cao hơn 38oC ở hai lần đo liên tiếp hoặc có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng bất thường nào thì cần báo cho y tế cơ sở để thăm khám và xử trí kịp thời. Tuân thủ thông điệp 5K.

Đối với người bệnh ra viện thuộc trường hợp cách ly điều trị trên 10 ngày và có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp real-time RT-PCR nhiều lần có nồng độ vi rút Ct < 30, sau khi ra viện yêu cầu người bệnh thực hiện cách ly y tế tại nhà trong 7 ngày.

Đo thân nhiệt 2 lần/ngày. Nếu thân nhiệt cao hơn 38 độ C ở hai lần đo liên tiếp hoặc có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng bất thường nào thì cần báo cho y tế cơ sở để thăm khám và xử trí kịp thời.


Nguồn: http://danviet.vn/bo-y-te-ban-hanh-huong-dan-moi-nhat-ve-trieu-chung-lam-sang-cua-nguoi-mac-covi…

Bộ Y tế hỏa tốc đề nghị Hà Nội hỗ trợ BV Việt Đức chống dịch COVID-19

Tối 1/10, Bộ Y tế có công văn hỏa tốc gửi UBND TP.Hà Nội về việc hỗ trợ công tác phòng chống dịch tại Bệnh viện…

Click: Xem thêm

Bo Y te thu hoi giay chung thuc mua ban

Bộ Y tế thu hồi giấy chứng thực mua bán dược của đơn vị Vimedimex

Ngày 13-12, Bộ Y tế đã có quyết định 5681/QĐ-BYT về việc thu hồi Giấy chứng thực đủ điều kiện mua bán dược của đơn vị Cổ phần Y dược phẩm Vimedimex (đơn vị Vimedimex).

Theo đó, Bộ Y tế thu hồi giấy chứng thực đủ điều kiện mua bán dược số 648/ĐKKDD-BYT ngày 30-7-2021 của đơn vị Cổ phần Y dược phẩm Vimedimex, địa chỉ trụ sở chính tại tầng 8 Tòa nhà Vimedimex Group, 46-48 Bà Triệu, Phường Hàng Bài, Quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội; địa điểm mua bán: Kho Ngoại Quan Cát Vận, Bãi VN Logistics, Phường Đông Hải 2, Quận Hải An, TP Hải Phòng.

Bộ Y tế thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh dược của Công ty Vimedimex có chủ tịch bị bắt - Ảnh 1.

đơn vị Cổ phần Y dược phẩm Vimedimex

Người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thuốc là dược sĩ Bùi Thị Ngọc Nga.

Người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược đối với hoạt động mua bán dịch vụ bảo quản thuốc là dược sĩ Hoàng Thị Huệ.

đơn vị Vimedimex tiền thân là doanh nghiệp nhà nước thành lập năm 1984. Từ năm 2006 chuyển sang mô hình đơn vị cổ phần. Hoạt động của đơn vị bao gồm 5 mảng, trong đó có nhập khẩu, phân phối thuốc.

Tháng 11 vừa qua, bà Nguyễn Thị Loan, Chủ tịch HĐQT đơn vị CP Tập đoàn Vimedimex, đã bị khởi tố, bắt tạm giam về hành vi “Vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản” xảy ra trên địa bàn huyện Đông Anh, TP Hà Nội.


D.Thu




Click: Xem thêm

Bo Y te Khong de thua vaccine voi han dung

Bộ Y tế: Không để thừa vaccine với hạn dùng ngắn

Bộ Y tế yêu cầu các địa phương rà soát số lượng vaccine đã được phân bổ và tiêm kịp thời, không để xảy ra tình trạng thừa vaccine với hạn dùng ngắn hoặc quá hạn sử dụng phải hủy bỏ.

Trong công văn ngày 4/12 gửi các địa phương, Bộ Y tế đốc xúc tiến nhanh tiến độ thực hành tiêm chủng vaccine Covid-19. Theo đó, Bộ Y tế ghi nhận đến hết ngày 30/11 các địa phương, đơn vị đã tiêm được hơn 123 triệu liều vaccine. Nhiều địa phương đạt tỷ lệ bao phủ cho người từ 18 tuổi trở lên cao trên 90% (đã được tiêm mũi một) và đang khai triển tiêm cho nhóm 12-17 tuổi.

“Tuy nhiên, một số địa phương tỷ lệ sử dụng vaccine và độ bao phủ vaccine còn thấp, còn nhiều người cao tuổi, người có bệnh nền chưa được tiêm nguy cơ tử vong cao nếu nhiễm bệnh”, công văn nêu.

Vì vậy, Bộ Y tế yêu cầu các địa phương đẩy nhanh tiến độ tiêm chủng; đảm bảo tiêm an toàn, ưu tiên tiêm cho người từ 50 tuổi trở lên, người mắc bệnh nền. Mục tiêu là hoàn thành bao phủ mũi một cho 100% dân số từ 12 tuổi trở lên trong năm 2020 và tiêm mũi hai cho người đã tiêm mũi một đủ thời gian. Địa phương đã đạt được độ bao phủ vaccine cao cần rà soát, tổ chức tiêm vét, đảm bảo tất cả người dân có đủ điều kiện tiêm chủng được tiêm đủ liều. Xây dựng kế hoạch và khai triển tiêm mũi tăng cường, mũi bổ sung cho những người đã tiêm chủng đủ liều cơ bản.

Các nguyên tắc thực hành an toàn tiêm chủng cũng được Bộ Y tế nhắc nhở đơn vị tiêm chủng lưu ý. Theo đó, cần theo dõi người được tiêm chí ít 30 phút sau tiêm tại điểm tiêm; chỉ dẫn người được tiêm theo dõi sức khỏe, liên hệ với cơ quan y tế gần nhất khi cấp thiết; xử trí kịp thời các trường hợp tai biến nặng sau tiêm. Đơn vị tiêm chủng cũng giảng giải cho người được tiêm về lợi ích, tác dụng không mong muốn có thể xảy ra sau khi tiêm để người dân hiểu rõ, hiểu đúng, tránh hoang mang.

Theo Bộ Y tế, từ tháng 3 đến hết ngày 3/12, Việt Nam đã tiếp thu hơn 147,5 triệu liều vaccine phòng Covid-19. Bộ Y tế đã phân bổ 95 đợt với tổng số 140,5 triệu liều, còn khoảng 7 triệu liều mới tiếp thu, đang tiến hành các thủ tục để kiểm định chất lượng, xuất xưởng vaccine. Từ tháng 12, Bộ Y tế cho phép tiêm mũi 3 (liều bổ sung, liều nhắc lại) cho nhóm nguy cơ cao.

Lê Nga