De xuat tang luong huu tro cap tu ngay 172019

Đề xuất tăng lương hưu, trợ cấp từ ngày 1/7/2019

Thứ Ba, ngày 22/01/2019 08:20 AM (GMT+7)

Theo dự thảo Nghị định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng mà Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đang lấy ý kiến, từ ngày 1/7/2019 sẽ tăng thêm 7,19% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6/2019…

Đề xuất tăng lương hưu, trợ cấp từ ngày 1/7/2019 - 1


Đề xuất tăng lương hưu, trợ cấp từ ngày 1/7/2019.


Theo đó, 8 đối tượng được đề xuất điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng gồm:


Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội người làm nông Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an dân chúng và người làm thuê tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng trước ngày 1/7/2019.


Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng trước ngày 1/7/2019.


Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của luật pháp; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 4/8/2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng trước ngày 1/7/2019.


Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng trước ngày 1/7/2019.

Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ trước ngày 1/7/2019.


Công an dân chúng đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ trước ngày 1/7/2019.   


Quân nhân, công an dân chúng, người làm thuê tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an dân chúng đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ trước ngày 1/7/2019.


Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng trước ngày 1/7/2019.


Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, Bộ đề xuất mức điều chỉnh tăng 7,19% (bằng tốc độ tăng mức lương cơ sở từ 1.390.000 đồng/tháng lên 1.490.000 đồng/tháng) trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6/2019 đối với các đối tượng nêu trên.


Về kinh phí điều chỉnh, theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, đối với các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội trước ngày 1/10/1995; hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 4/8/2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; người hưởng lương hưu theo Nghị định số 159/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006, Nghị định số 11/2011/NĐ-CP ngày 30/1/2011 của Chính phủ và công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng do ngân sách nhà nước đảm bảo. Số đối tượng được điều chỉnh tại thời khắc tháng 6/2019 ước là 1,016,340 người, dự kiến kinh phí tăng thêm trong năm 2019 (6 tháng) là 1.454 tỷ đồng.


Đối với các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội từ ngày 1/10/1995 trở đi, kể cả đối tượng đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ do quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo. Số đối tượng được điều chỉnh tại thời khắc tháng 6/2019 ước là 1,872,046 người, dự kiến kinh phí tăng thêm trong năm 2019 (6 tháng) là 4.335 tỷ đồng.


Đối với cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng thì kinh phí điều chỉnh được tổng hợp từ nguồn kinh phí địa phương.


Đối với quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; công an dân chúng đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ; quân nhân, công an dân chúng, người làm thuê tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an dân chúng đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì do ngân sách nhà nước đảm bảo.


Dự thảo lấy ý kiến đến hết ngày 8/3/2019.

Click: Xem thêm

De xuat su dung video tu test nhanh de mua

Đề xuất sử dụng video tự test nhanh để mua molnupiravir

Bộ Y tế ngày 5/3 đề xuất Thủ tướng cho phép dùng video người dân tự quay quá trình test nhanh tại nhà làm cơ sở mua thuốc molnupiravir.

Trong báo cáo gửi Thủ tướng cùng ngày, Bộ Y tế cho rằng yêu cầu mua thuốc kháng virus molnupiravir phải có đơn của bác sĩ, y sĩ sẽ gây quá tải cho hệ thống y tế, do số ca nhiễm ngày càng tăng cao. Song, molnupiravir được cấp phép có điều kiện, khi sử dụng phải theo dõi chặt chẽ về tính an toàn, hiệu quả, chất lượng. Thuốc này chẳng thể sử dụng thiếu kiểm soát do có tác dụng phụ và nguy cơ tạo ra biến chủng mới.

Vì vậy, Bộ Y tế đề xuất các nhà thuốc, quầy thuốc chịu trách nhiệm kê đơn, bán molnupiravir cho người dân, tổng hợp số liệu báo cáo trạm y tế hoặc trung tâm y tế địa phương hàng ngày.

Cụ thể, người phụ trách chuyên môn ở nhà thuốc sẽ kê đơn cho F0 hoặc người mua hộ. Người đến mua phải có xác nhận dương tính nCoV từ cơ sở y tế, bao gồm xét nghiệm PCR hoặc test nhanh; hoặc video quay quá trình thực hành test nhanh tại nhà kết quả dương tính. Khi mua thuốc, mọi người phải ký cam kết, khai báo thông tin về người bệnh, ngày test, kết quả test…

Trước đó phương án chấp thuận video quá trình tự test dương tính của F0 được FPT Long Châu – chủ sở hữu chuỗi nhà thuốc Long Châu đề xuất và ứng dụng linh hoạt, dựa theo thực tế một số phường tại Hà Nội tiếp thu video tự test để xác định F0.

Người dân mua thuốc molnupiravir tại Hà Nội. Ảnh:Lộc Chung

Người dân mua thuốc molnupiravir tại Hà Nội. Ảnh: Lộc Chung

Bộ Y tế cũng đề xuất cấp phát miễn phí molnupiravir tại cơ sở y tế, ứng dụng đấu thầu tập trung. Tuy nhiên, cơ chế này còn bất cập, có thể giảm tính cạnh tranh về lâu dài và khó đảm bảo xác định nhu cầu, số lượng sử dụng thuốc trong khi Covid-19 còn diễn biến phức tạp. Để giải quyết, Bộ Y tế cho rằng nên giao các địa phương, cơ sở y tế thực hành mua theo quy định.

Lượng thuốc sản xuất trong nước “đáp ứng đủ nhu cầu điều trị”, theo Bộ Y tế. Tổng năng lực sản xuất của ba doanh nghiệp nội có thể đạt tới 280 triệu viên một tháng, tương đương 11 triệu liệu trình. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) tính toán số ca mắc Covid-19 mức độ nhẹ một tháng là hơn 1,1 triệu ca, chỉ 30% trong số này cần sử dụng thuốc kháng virus, ước tính cần 334.800 liệu trình một tháng. Hiện giá thành cho một liệu trình molnupiravir khoảng 300.000 đồng, rẻ nhất trên thế giới.

Bên cạnh nguồn thuốc nội, Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) đã cấp phép nhập khẩu hơn 37,6 triệu viên molnupiravir, tương đương 940.000 liệu trình điều trị tính đến nay. Số thuốc này để phục vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thí nghiệm lâm sàng. Bộ Y tế sẽ thông tin công khai và chỉ dẫn nhập khẩu thuốc molnupiravir nếu có nhu cầu, tiếp tục thẩm định và cấp phép cho tất cả giấy tờ đăng ký lưu hành thuốc đủ yêu cầu.

Liên quan các loại thuốc điều trị Covid-19 khác, đến nay Bộ Y tế đã cấp phát hơn 852.000 lọ remdesivir, hiện tồn kho gần 822.000 lọ. Dự kiến năm 2022, các bệnh viện và sở y tế cần hơn 857.000 lọ remdesivir. Đây là thuốc kháng virus tiêm đường tĩnh mạch dùng cho bệnh nhân nặng điều trị tại bệnh viện. Hai triệu viên favipiravir cũng được phân bổ tính đến 25/11/2021, hiện không còn thuốc dự trữ. Bộ Y tế ước tính cần hơn 5,4 triệu viên favipiravir, tính đến ngày 26/2. Đây là thuốc kháng virus dùng cho F0 điều trị tại nhà, tương đương molnupiravir.

Ngoài ra, hơn 5.000 liều thuốc kháng thể đơn dòng casirivimab và imdevimab đã được phân bổ cho 63 tỉnh, thành, tính đến ngày 30/12/2021, ước tính cần hơn 8.700 liều cho điều trị.

Dự kiến, một triệu viên favipiravir và 3.000 liều thuốc kháng thể đơn dòng sẽ về Việt Nam trong thời gian tới, nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị.

Thuốc molnupiravir sản xuất tại Công ty Boston Việt Nam, Bình Dương, ngày 23/2. Ảnh: Quỳnh Trần

Thuốc molnupiravir sản xuất tại doanh nghiệp Boston Việt Nam, Bình Dương, ngày 23/2. Ảnh: Quỳnh Trần

Như vậy, molnupiravir cùng remdesivir và favipiravir là ba loại thuốc kháng virus được Bộ Y tế đưa vào phác đồ điều trị cho bệnh nhân Covid-19. Trong đó, molnupiravir và favipiravir sử dụng cho F0 nhẹ tại nhà. Remdesivir điều trị tại bệnh viện. Hai thuốc casirivimab và imdevimab là kháng thể đơn dòng, chưa được cấp phép, sử dụng có kiểm soát cho F0 nhẹ, trung bình hoặc không triệu chứng.

Hôm 17/2, Bộ Y tế đã cấp phép nguy cấp ba loại thuốc molnupiravir do ba doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, gồm Molravir 400 của doanh nghiệp Cổ phần Dược phẩm Boston Việt Nam, Movinavir hàm lượng 200 mg của doanh nghiệp Cổ phần Hóa – dược phẩm Mekorpha và Molnupiravir Stella 400 của doanh nghiệp TNHH Stellapharm. Sau 6 ngày, Bộ Y tế công khai giá, cho phép bán tại chuỗi nhà thuốc FPT Long Châu.

Tuy nhiên, từ đầu tháng 3, TP HCM và Hà Nội yêu cầu các nhà thuốc chỉ bán molnupiravir khi người dân có đơn thuốc của bác sĩ. Tối 2/3, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Y tế chỉ đạo, chỉ dẫn cắt giảm ngay thủ tục hành chính khi mua thuốc, tạo điều kiện thuận tiện, không để người dân vất vả khi tiếp cận thuốc. Bộ Y tế cần khẩn trương quyết định cấp phép nhập khẩu, sử dụng thuốc điều trị Covid-19; tăng cường quản lý giá thuốc, xử lý nghiêm các trường hợp đầu cơ, buôn lậu thuốc.

Chi Lê

Click: Xem thêm

De xuat 4 buoc de ket thuc khung hoang Ukraine

Đề xuất 4 bước để kết thúc khủng hoảng Ukraine

đầu tiên, Mỹ và Nga có thể khởi đầu bằng việc hạn chế các hoạt động quân sự dọc biên cương NATO/Nga. Hai nước có thể nỗ lực hồi sinh các thỏa thuận thời chiến tranh lạnh đã bị quên lãng trong những năm gần đây, đồng thời có những thỏa thuận nhằm tránh sự cố hiểm nguy trên không hoặc trên biển.

Hai bên cũng cần thương thảo một thỏa thuận tương tự Hiệp ước về các lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu – vốn được ký kết nhằm kiểm soát hoạt động quân sự ở các khu vực biên giới.

Đề xuất 4 bước để chấm dứt khủng hoảng Ukraine - Ảnh 1.

quân sĩ Mỹ tranh thủ ngơi nghỉ trong lúc chờ lên tàu bay đến châu Âu. Ảnh chụp tại Căn cứ Fort Bragg, bang Bắc Carolina – Mỹ hôm 14-2 Ảnh: REUTERS

Tiếp đến, hai phía cần tìm kiếm thỏa thuận nhằm tạm hoãn chiến lược mở rộng về phía Đông của NATO – vốn là điểm then chốt trong cuộc tranh luận hiện nay. Thời hạn của thỏa thuận này chỉ cần đủ dài để Moscow khẳng định các yêu cầu an ninh tối thiểu của họ đã được đáp ứng, cũng như để Washington chứng minh họ không từ bỏ chính sách mở cửa.

Bên cạnh đó, hai bên cần kiếm tìm thỏa thuận giới hạn hoạt động quân sự của NATO quanh Ukraine sao cho xoa dịu được nỗi lo an ninh của Nga và thích hợp với các nguyên tắc của NATO.

Chẳng hạn, các nước thành viên NATO có thể cam kết không lập căn cứ quân sự ở Ukraine hoặc cung cấp cho Ukraine các hệ thống vũ khí có thể tiến công bờ cõi Nga. Đổi lại, Moscow có thể cam kết không khai triển những hệ thống vũ khí nhất quyết đến gần biên cương Ukraine.

Để tháo ngòi khủng hoảng Ukraine, cũng cần giải quyết các cuộc xung đột trong không gian hậu Liên Xô và khu vực Balkan, như Crimea, Kosovo, Donbas…

Cuối cùng, để tạo dựng nền tảng cho nhiều thập kỷ hòa bình ở châu Âu, các bên cần cập nhật và hiện đại hóa Hiệp ước Helsinki (ký năm 1975), đặc biệt là 10 nguyên tắc chủ đạo đã được tán đồng, trong đó có việc tôn trọng các quyền chủ quyền, không can thiệp vào việc làm nội bộ, không bị đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp hòa bình…

Các tác giả bài viết cho rằng 4 nội dung nói trên cần phải được thương thảo theo nguyên tắc trọn gói. Họ cũng nhận định việc đạt được một thỏa thuận toàn diện như thế sẽ cần nhiều thời gian và nỗ lực nhưng nhấn mạnh đã đến lúc khởi đầu tiến trình này.



Click: Xem thêm

De xuat cua chuyen gia My truoc buoc ngoat ve

Đề xuất của chuyên gia Mỹ trước bước ngoặt về đại dịch

Trong khi một bên cho rằng việc bắt buộc chưa bao giờ là điều cấp thiết và tỏ ra hồ nghi về hiệu quả của khẩu trang, vắc xin, bên còn lại tiếp tục xem việc đeo khẩu trang là biểu tượng của niềm tin vào khoa học.

Theo cây bút bình luận Leana Wen của tờ The Washington Post, giáo sư Trường Y tế công Milken thuộc Đại học George Washington (Mỹ), chính sách y tế công cộng mang nhiều sắc thái và phức tạp, chúng ta càng sớm nhận ra điều này thì càng có thể nhanh chóng thoát khỏi những ý kiến phân cực, từ đó tìm được sự thỏa hiệp hợp lý để thích ứng an toàn với Covid-19.

Đề xuất của chuyên gia Mỹ trước bước ngoặt về đại dịch - ảnh 1

Quy định đeo khẩu trang bắt buộc tại một cửa hàng ở Washington, Mỹ

Chuyên gia Leana Wen nhận định: Vào thời khắc đầu dịch, có rất ít công cụ để chống lại vi rút mới và gây chết người này. Khi đó, khẩu trang và giãn cách vật lý là những biện pháp xung yếu giúp cứu người. Theo thời gian, số ca nhiễm nhanh chóng giảm, vắc xin được bao phủ rộng rãi và cho thấy hiệu quả rõ ràng. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh nguy cơ tử vong vì Covid-19 của người tiêm vắc xin thấp hơn 97 lần so với người chưa tiêm.

Bên cạnh đó, khẩu trang bảo vệ người đeo, ngay cả khi người xung quanh không đeo. Đó là chứng cứ cho thấy quy định đeo khẩu trang là chính sách đúng đắn trước đây.

Theo bác sĩ Jeanne Noble tại Trung tâm y tế Đại học California tại San Francisco (Mỹ), các chính sách đúng đắn cần được đánh giá lại thường xuyên về những mặt được và mất. Bà lấy ví dụ về việc đeo khẩu trang trong trường học, theo đó, có nghiên cứu cho thấy khẩu trang giúp giảm khả năng nhiễm bệnh nhưng cũng có thể liên quan đến kỹ năng đọc và giao tiếp qua biểu cảm khuôn mặt của trẻ em.

n

Tương tự, Covid-19 gây chết người và một loạt vấn đề xã hội khác, nhưng nếu chỉ ưu tiên để giải quyết Covid-19, chúng ta có thể sẽ phải đánh đổi bằng những khủng hoảng sức khỏe cộng đồng khác như nạn sử dụng quá liều thuốc giảm đau gây nghiện, tình trạng béo phì trẻ em, số ca cao huyết áp, tiểu đường vẫn đang gia tăng trên toàn cầu, bệnh trầm cảm và hậu quả của các rối loạn sức khỏe tâm thần liên quan tiêu cực đến chất lượng cuộc sống…

Xuyên suốt đại dịch Covid-19, có hai nhóm ý kiến luôn đối chọi nhau: một bên phản đối những quy định giới hạn và bên còn lại ủng hộ, khi cả hai bên càng cố gắng bảo vệ ý kiến của mình thì nhóm thứ ba xuất hiện. Nhóm này chủ trương hạn chế vào thời khắc đầu nhưng giờ cho rằng tình hình đã thay đổi, đủ để có các quy định mang tính linh động hơn. Nhóm này cũng thừa nhận tác động thảm kịch của đại dịch, nhưng cũng hiểu rằng loại trừ tận gốc Covid-19 không phải là tất cả.

Do đó, các nhà hoạch định chính sách nên tập trung vào nhóm này khi bước vào giai đoạn tiếp theo của đại dịch, cố gắng thay sự thế chia rẽ gay gắt bằng sự dung hòa thích hợp hơn.



Click: Xem thêm

De xuat Bo Y te tam ung hon 10 ti

Đề xuất Bộ Y tế tạm ứng hơn 10 tỉ đồng trả lương cho viên chức Bệnh vi…

Học viện Y dược khoa Cổ truyền Việt Nam tối 13-1 đã thông tin liên quan đến vụ việc 160 viên chức y tế Bệnh viện Tuệ Tĩnh bị nợ lương nhiều tháng qua.

Thông tin của Học viện cho biết thực hành chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Y tế tại công văn ngày 12-1 để giải quyết vấn đề tiền lương kịp thời, đơn vị này đã khai triển một số nội dung, trong đó đã báo cáo Bộ Y tế để được phép cho Bệnh viện Tuệ Tĩnh tạm ứng từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp kết dư của Học viện để Bệnh viện thực hành chi trả 50% tiền lương, phụ cấp tháng 12-2021 và tháng 1-2022 cho cán bộ viên chức y tế Bệnh viện Tuệ Tĩnh.

Đề xuất Bộ Y tế tạm ứng hơn 10 tỉ đồng trả lương cho nhân viên Bệnh viện Tuệ Tĩnh - Ảnh 1.

Nhiều viên chức y tế Bệnh viện Tuệ Tĩnh đã căng băng rôn yêu cầu trả lương theo quy định

Đồng thời, Học viện đề xuất Bộ Y tế coi xét bố trí gấp nguồn kinh phí của Bộ Y tế để tạm ứng trước cho bệnh viện với số tiền 10,2 tỉ đồng để bệnh viện có kinh phí kịp thời chi trả phần tiền lương, phụ cấp còn nợ từ tháng 5-2021 đến nay cho viên chức y tế.

Theo thông tin này, Học viện đã tổ chức họp, thống nhất cho Bệnh viện Tuệ Tĩnh ứng trước khoản kinh phí chi lương và thống nhất chi các khoản phúc lợi, Tết Nguyên đán Nhầm Dần 2022 theo mức chi chung toàn Học viện cho viên chức, người lao động thuộc bệnh viện Tuệ Tĩnh ngày 13-1.

Học viện kiến nghị với lãnh đạo Bộ Y tế tiếp tục đề xuất với Bộ Tài chính trình Chính phủ sớm có quyền quyết định bổ sung ngân sách hỗ trợ bệnh viện để chi trả tiền lương cho viên chức người lao động.

Về phía Bệnh viện Tuệ Tĩnh, Ban giám đốc phải chỉ đạo, khai triển đồng bộ biện pháp nhằm phát triển chuyên môn, mở rộng và tăng nguồn thu cho đơn vị để sớm có thu nhập ổn định thực hành chi thường xuyên.

Lý giải về tình trạng nợ lương viên chức y tế nhiều tháng qua, thông tin của Học viện Y dược khoa Cổ truyền Việt Nam cho biết từ tháng 1-2019, Bệnh viện Tuệ Tĩnh được tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với việc sử nguồn tài chính để thực hành nhiệm vụ của đơn vị theo quy định. Tuy nhiên, dịch Covid-19 đã liên quan lớn đến kế hoạch và kết quả hoạt động của bệnh viện.

Cùng với việc tham gia phòng chống dịch bệnh Covid-19 tại các tỉnh, thành, bệnh viện cũng phải khai triển đồng bộ nhiều biện pháp để phòng chống dịch bệnh, phải thực hành giãn cách, giảm số lượng bệnh nhân, hạn chế tiếp thu người bệnh không phải trường hợp cấp cứu.

Bệnh viện gần như không có bệnh nhân, công suất sử dụng giường bệnh trong quý 1-2021 đạt 15%, quý 2 năm 2021 đạt 51,19% và quý 3 năm 2021 đạt 12,1% so với số giường bệnh theo kế hoạch. Chính vì vậy, nguồn thu của Bệnh viện không đủ để trang trải phí tổn hoạt động thường xuyên, chỉ ưu tiên trả lương và các khoản trích nộp theo lương.

Dù nguồn thu giảm rất lớn, nhưng bệnh viện vẫn phải tăng chi để thực hành các biện pháp phòng, chống lây nhiễm do dịch Covid-19, cử viên chức, cán bộ tham gia hỗ trợ phòng chống dịch tại các địa phương. Trong các đợt dịch vừa qua, Học viện và Bệnh viện Tuệ Tĩnh đã cử gần 500 người giảng, sinh viên tham gia phòng chống dịch tại Bắc Giang, TP HCM và Hà Nội.

Từ tháng 5- 2021 đến nay, Bệnh viện Tuệ Tĩnh chỉ tạm chi 50% tiền lương dẫn đến đời sống của viên chức, người lao động gặp rất nhiều khó khăn.

Ban lãnh đạo Bệnh viện Tuệ Tĩnh, Học viện cùng các phòng chức năng đã có nhiều buổi gặp gỡ, đối thoại để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng cũng như cổ vũ, giải đáp và làm rõ những thắc mắc của viên chức người lao động trong thời gian vừa qua đồng thời thông tin đến toàn thể, viên chức người lao động Bệnh viện về các biện pháp mà Bệnh viện, Học viện đã báo cáo, đề xuất, kiến nghị Bộ Y tế, Tổng LĐLĐ Việt Nam coi xét, giải quyết vấn đề tiền lương của viên chức, người lao động.

viên chức bệnh viện Tuệ Tĩnh căng băng rôn kêu cứu vì bị nợ lương

thông tin của Học viện cũng cho biết trước đó, Bộ Y tế và Tổng LĐLĐ Việt Nam đã có nhiều buổi làm việc với học viện, bệnh viện về nội dung này. Bộ Y tế đã 2 lần có văn bản gửi Bộ Tài chính về việc đề xuất hỗ trợ kinh phí chi thường xuyên cho Bệnh viện Tuệ Tĩnh do liên quan của dịch Covid-19.

Theo lãnh đạo Học viện, nhiều lần viên chức y tế Bệnh viện Tuệ Tĩnh yêu cầu Ban giám đốc Học viện trả lương theo đúng hợp đồng làm việc. Tất cả các buổi trên đều được Ban lãnh đạo Học viện, Bệnh viện trực tiếp đối thoại, giảng giải, cổ vũ và đề xuất cán bộ, Đảng viên, viên chức, người lao động các quy định của Đảng, luật pháp đồng thời thực hành đúng quyền, nghĩa vụ trong hoạt động nghề nghiệp.

Hiện đơn vị này đã yêu cầu Bệnh viện Tuệ Tĩnh báo cáo chi tiết thực trạng về tài chính và phương án chi thu để báo cáo Bộ Y tế đề xuất với Bộ Tài chính, Chính phủ bố trí các nguồn kinh phí hỗ trợ bệnh viện để chi trả kịp thời tiền lương cho viên chức, người lao động, khắc phục ngay các khó khăn trước mắt của bệnh viện.

thực hành đánh giá kết quả hoạt động sau 3 năm thực hành loại hình đơn vị tự đảm bảo toàn bộ phí tổn hoạt động thường xuyên, nhất là trong thời gian dịch bệnh hiện nay làm cơ sở đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền (Bộ Y tế, Bộ Tài chính…) điều chỉnh loại hình tự chủ về tài chính cho bệnh viện từ loại hình đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi thường xuyên sang loại hình đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi thường xuyên để thích hợp với tình hình thực tế, có kinh phí vượt qua khó khăn của giai đoạn dịch bệnh này.



Click: Xem thêm

De xuat cho phep tu nhan dau tu nhieu phi

Đề xuất cho phép tư nhân đầu tư nhiều phi trường

Bộ Giao thông vận chuyển kiến nghị huy động nguồn vốn xã hội hóa theo hình thức PPP với các cảng hàng không mới như Quảng Trị, Sa Pa, Cao Bằng…

Ngày 10/11, đại diện Bộ Giao thông vận chuyển cho hay, cơ quan này đã trình Chính phủ Đề án định hướng huy động nguồn vốn xã hội đầu tư kết cấu hạ tầng hàng không.

Theo đó, bộ này kiến nghị Chính phủ cho ý kiến về định hướng phân loại hệ thống cảng hàng không và phương án huy động nguồn vốn xã hội đầu tư kết cấu hạ tầng cảng hàng không của từng nhóm.

28 cảng hàng không trong quy hoạch đến 2030 được đề xuất chia thành 5 nhóm để làm cơ sở định hướng huy động nguồn vốn xã hội đầu tư và giao cho địa phương quản lý.

Cụ thể, nhóm 1 gồm các cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Long Thành, Tân Sơn Nhất. Đây là các cảng hàng không quốc tế xung yếu của quốc gia, đóng vai trò gom hành khách, hàng hóa để kết nối với mạng đường bay nội địa và quốc tế.

Nhóm 2 gồm các cảng hàng không Thọ Xuân, Chu Lai, Phù Cát, Tuy Hòa. Các phi trường này có hoạt động quân sự, huấn luyện quân sự thường xuyên, tài sản và đất đai khu bay do Bộ Quốc phòng quản lý.

Nhóm 3 gồm các phi trường Điện Biên, Nà Sản, Đồng Hới, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Rạch Giá, Cà Mau, Phú Quốc và Côn Đảo. Đây là các cảng hàng không ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, cân đối chi thu khó khăn, có công suất quy hoạch đến năm 2030 nhỏ hơn 5 triệu lượt hành khách một năm.

Nhóm 4 gồm các phi trường Cát Bi, Vinh, Phú Bài, Liên Khương, Cần Thơ. Đây là các cảng hàng không có công suất quy hoạch đến năm 2030 lớn hơn 5 triệu lượt hành khách một năm, có tiềm năng phát triển, có khả năng thu hút các nhà đầu tư, không có hoạt động quân sự thường xuyên.

Nhóm 5 gồm các cảng hàng không mới như Sa Pa, Quảng Trị, Lai Châu và các cảng hàng không tiềm năng như Cao Bằng, Hải Phòng (Tiên Lãng), cảng hàng không thứ hai vùng Thủ đô.

Sân bay Nội Bài đang được đề xuất điều chỉnh quy hoạch lên 60 triệu hành khách đến năm 2030. Ảnh:Giang Huy.

phi trường Nội Bài đang được đề xuất điều chỉnh quy hoạch lên 60 triệu hành khách đến năm 2030. Ảnh: Giang Huy.

21 cảng hàng không hiện do Tổng đơn vị Cảng hàng không Việt Nam (ACV) khai thác, các công trình tại phi trường được chia thành 4 cụm để tiện lợi quản lý, khai thác và đầu tư.

Trong đó, cụm 1 – các công trình, hạ tầng hoạt động bay thuộc công trình cần yếu như đài kiểm soát không lưu. Cụm 2 là các công trình đường cất hạ cánh, đường lăn. Cụm 3 là các công trình hạ tầng như sân đỗ, nhà ga hành khách, công trình hạ tầng kỹ thuật. Cụm 4 là các công trình dịch vụ hàng không như nhà ga hàng hóa.

Về phương án đầu tư mở rộng, xây mới các cảng hàng không theo quy hoạch, Bộ Giao thông vận chuyển khẳng định ACV vẫn sẽ đóng vai trò xung yếu, dẫn dắt thị trường đầu tư kết cấu hạ tầng cảng hàng không, nhưng sẽ huy động các nhà đầu tư tư nhân đầu tư tại các phi trường.

Cụ thể, tại phi trường nhóm 1 – Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Long Thành, Tân Sơn Nhất, sẽ huy động nguồn vốn xã hội để đầu tư các công trình dịch vụ hàng không và phi hàng không (Cụm 4) theo hình thức đầu tư mua bán.

Với nhóm 2 – Thọ Xuân, Chu Lai, Phù Cát, Tuy Hòa, trường hợp Bộ Quốc phòng bàn giao khu bay cho Bộ Giao thông vận chuyển hoặc địa phương quản lý, Bộ Giao thông vận chuyển đề xuất huy động nguồn vốn xã hội đầu tư toàn bộ cảng hàng không theo hình thức PPP sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng hiện có để tham gia dự án, đặc biệt là phi trường Chu Lai hiện nay có nhiều nhà đầu tư quan tâm.

Nhóm 3 là các phi trường Điện Biên, Nà Sản, Đồng Hới, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Rạch Giá, Cà Mau, Phú Quốc và Côn Đảo, Bộ Giao thông vận chuyển sẽ chuyển giao khu bay (cụm 2) và ACV chuyển giao các công trình (cụm 3) cho địa phương để chủ động huy động nguồn lực đầu tư.

Nhóm 4 với các phi trường Cát Bi, Vinh, Phú Bài, Liên Khương, Cần Thơ cũng được chuyển giao như nhóm 3.

Đặc biệt đối với nhóm 5 là các cảng hàng không mới như Sa Pa, Quảng Trị, Lai Châu, Cao Bằng, Bộ kiến nghị huy động nguồn vốn xã hội đầu tư toàn bộ cảng hàng không theo hình thức PPP. UBND các tỉnh có quy hoạch cảng hàng không mới là cơ quan có thẩm quyền đầu tư theo phương thức PPP chủ động huy động, cân đối nguồn lực và tổ chức thực hành đầu tư.

Hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp tư nhân đề xuất nghiên cứu, đầu tư các cảng hàng không như Vietjet muốn đầu tư các phi trường Chu Lai, Cát Bi, Tuy Hòa, Điện Biên. đơn vị IPP dự kiến đầu tư các phi trường Phú Quốc, Tuy Hòa; Vingroup muốn đầu tư cảng hàng không Chu Lai. FLC muốn đầu tư vào Cảng hàng không Đồng Hới. đơn vị T&T đề xuất đầu tư phi trường Quảng Trị.

Theo dự thảo quy hoạch cảng hàng không, phi trường được trình Chính phủ, các phi trường quốc tế lớn đóng vai trò đầu mối được xây dựng, mở rộng đến 2030 như Long Thành (giai đoạn 1) đạt công suất 25 triệu hành khách mỗi năm; Tân Sơn Nhất sẽ được mở rộng lên 50 triệu khách; Nội Bài đạt công suất 60 triệu khách; phi trường Đà Nẵng 25 triệu khách…

Quy hoạch xác định nhu cầu vốn đầu tư cho các cảng hàng không trên toàn quốc đến năm 2030 khoảng 403.100 tỷ đồng.

Anh Duy