De xuat Bo Y te tam ung hon 10 ti

Đề xuất Bộ Y tế tạm ứng hơn 10 tỉ đồng trả lương cho viên chức Bệnh vi…

Học viện Y dược khoa Cổ truyền Việt Nam tối 13-1 đã thông tin liên quan đến vụ việc 160 viên chức y tế Bệnh viện Tuệ Tĩnh bị nợ lương nhiều tháng qua.

Thông tin của Học viện cho biết thực hành chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Y tế tại công văn ngày 12-1 để giải quyết vấn đề tiền lương kịp thời, đơn vị này đã khai triển một số nội dung, trong đó đã báo cáo Bộ Y tế để được phép cho Bệnh viện Tuệ Tĩnh tạm ứng từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp kết dư của Học viện để Bệnh viện thực hành chi trả 50% tiền lương, phụ cấp tháng 12-2021 và tháng 1-2022 cho cán bộ viên chức y tế Bệnh viện Tuệ Tĩnh.

Đề xuất Bộ Y tế tạm ứng hơn 10 tỉ đồng trả lương cho nhân viên Bệnh viện Tuệ Tĩnh - Ảnh 1.

Nhiều viên chức y tế Bệnh viện Tuệ Tĩnh đã căng băng rôn yêu cầu trả lương theo quy định

Đồng thời, Học viện đề xuất Bộ Y tế coi xét bố trí gấp nguồn kinh phí của Bộ Y tế để tạm ứng trước cho bệnh viện với số tiền 10,2 tỉ đồng để bệnh viện có kinh phí kịp thời chi trả phần tiền lương, phụ cấp còn nợ từ tháng 5-2021 đến nay cho viên chức y tế.

Theo thông tin này, Học viện đã tổ chức họp, thống nhất cho Bệnh viện Tuệ Tĩnh ứng trước khoản kinh phí chi lương và thống nhất chi các khoản phúc lợi, Tết Nguyên đán Nhầm Dần 2022 theo mức chi chung toàn Học viện cho viên chức, người lao động thuộc bệnh viện Tuệ Tĩnh ngày 13-1.

Học viện kiến nghị với lãnh đạo Bộ Y tế tiếp tục đề xuất với Bộ Tài chính trình Chính phủ sớm có quyền quyết định bổ sung ngân sách hỗ trợ bệnh viện để chi trả tiền lương cho viên chức người lao động.

Về phía Bệnh viện Tuệ Tĩnh, Ban giám đốc phải chỉ đạo, khai triển đồng bộ biện pháp nhằm phát triển chuyên môn, mở rộng và tăng nguồn thu cho đơn vị để sớm có thu nhập ổn định thực hành chi thường xuyên.

Lý giải về tình trạng nợ lương viên chức y tế nhiều tháng qua, thông tin của Học viện Y dược khoa Cổ truyền Việt Nam cho biết từ tháng 1-2019, Bệnh viện Tuệ Tĩnh được tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với việc sử nguồn tài chính để thực hành nhiệm vụ của đơn vị theo quy định. Tuy nhiên, dịch Covid-19 đã liên quan lớn đến kế hoạch và kết quả hoạt động của bệnh viện.

Cùng với việc tham gia phòng chống dịch bệnh Covid-19 tại các tỉnh, thành, bệnh viện cũng phải khai triển đồng bộ nhiều biện pháp để phòng chống dịch bệnh, phải thực hành giãn cách, giảm số lượng bệnh nhân, hạn chế tiếp thu người bệnh không phải trường hợp cấp cứu.

Bệnh viện gần như không có bệnh nhân, công suất sử dụng giường bệnh trong quý 1-2021 đạt 15%, quý 2 năm 2021 đạt 51,19% và quý 3 năm 2021 đạt 12,1% so với số giường bệnh theo kế hoạch. Chính vì vậy, nguồn thu của Bệnh viện không đủ để trang trải phí tổn hoạt động thường xuyên, chỉ ưu tiên trả lương và các khoản trích nộp theo lương.

Dù nguồn thu giảm rất lớn, nhưng bệnh viện vẫn phải tăng chi để thực hành các biện pháp phòng, chống lây nhiễm do dịch Covid-19, cử viên chức, cán bộ tham gia hỗ trợ phòng chống dịch tại các địa phương. Trong các đợt dịch vừa qua, Học viện và Bệnh viện Tuệ Tĩnh đã cử gần 500 người giảng, sinh viên tham gia phòng chống dịch tại Bắc Giang, TP HCM và Hà Nội.

Từ tháng 5- 2021 đến nay, Bệnh viện Tuệ Tĩnh chỉ tạm chi 50% tiền lương dẫn đến đời sống của viên chức, người lao động gặp rất nhiều khó khăn.

Ban lãnh đạo Bệnh viện Tuệ Tĩnh, Học viện cùng các phòng chức năng đã có nhiều buổi gặp gỡ, đối thoại để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng cũng như cổ vũ, giải đáp và làm rõ những thắc mắc của viên chức người lao động trong thời gian vừa qua đồng thời thông tin đến toàn thể, viên chức người lao động Bệnh viện về các biện pháp mà Bệnh viện, Học viện đã báo cáo, đề xuất, kiến nghị Bộ Y tế, Tổng LĐLĐ Việt Nam coi xét, giải quyết vấn đề tiền lương của viên chức, người lao động.

viên chức bệnh viện Tuệ Tĩnh căng băng rôn kêu cứu vì bị nợ lương

thông tin của Học viện cũng cho biết trước đó, Bộ Y tế và Tổng LĐLĐ Việt Nam đã có nhiều buổi làm việc với học viện, bệnh viện về nội dung này. Bộ Y tế đã 2 lần có văn bản gửi Bộ Tài chính về việc đề xuất hỗ trợ kinh phí chi thường xuyên cho Bệnh viện Tuệ Tĩnh do liên quan của dịch Covid-19.

Theo lãnh đạo Học viện, nhiều lần viên chức y tế Bệnh viện Tuệ Tĩnh yêu cầu Ban giám đốc Học viện trả lương theo đúng hợp đồng làm việc. Tất cả các buổi trên đều được Ban lãnh đạo Học viện, Bệnh viện trực tiếp đối thoại, giảng giải, cổ vũ và đề xuất cán bộ, Đảng viên, viên chức, người lao động các quy định của Đảng, luật pháp đồng thời thực hành đúng quyền, nghĩa vụ trong hoạt động nghề nghiệp.

Hiện đơn vị này đã yêu cầu Bệnh viện Tuệ Tĩnh báo cáo chi tiết thực trạng về tài chính và phương án chi thu để báo cáo Bộ Y tế đề xuất với Bộ Tài chính, Chính phủ bố trí các nguồn kinh phí hỗ trợ bệnh viện để chi trả kịp thời tiền lương cho viên chức, người lao động, khắc phục ngay các khó khăn trước mắt của bệnh viện.

thực hành đánh giá kết quả hoạt động sau 3 năm thực hành loại hình đơn vị tự đảm bảo toàn bộ phí tổn hoạt động thường xuyên, nhất là trong thời gian dịch bệnh hiện nay làm cơ sở đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền (Bộ Y tế, Bộ Tài chính…) điều chỉnh loại hình tự chủ về tài chính cho bệnh viện từ loại hình đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi thường xuyên sang loại hình đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi thường xuyên để thích hợp với tình hình thực tế, có kinh phí vượt qua khó khăn của giai đoạn dịch bệnh này.



Click: Xem thêm

De xuat cho phep tu nhan dau tu nhieu phi

Đề xuất cho phép tư nhân đầu tư nhiều phi trường

Bộ Giao thông vận chuyển kiến nghị huy động nguồn vốn xã hội hóa theo hình thức PPP với các cảng hàng không mới như Quảng Trị, Sa Pa, Cao Bằng…

Ngày 10/11, đại diện Bộ Giao thông vận chuyển cho hay, cơ quan này đã trình Chính phủ Đề án định hướng huy động nguồn vốn xã hội đầu tư kết cấu hạ tầng hàng không.

Theo đó, bộ này kiến nghị Chính phủ cho ý kiến về định hướng phân loại hệ thống cảng hàng không và phương án huy động nguồn vốn xã hội đầu tư kết cấu hạ tầng cảng hàng không của từng nhóm.

28 cảng hàng không trong quy hoạch đến 2030 được đề xuất chia thành 5 nhóm để làm cơ sở định hướng huy động nguồn vốn xã hội đầu tư và giao cho địa phương quản lý.

Cụ thể, nhóm 1 gồm các cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Long Thành, Tân Sơn Nhất. Đây là các cảng hàng không quốc tế xung yếu của quốc gia, đóng vai trò gom hành khách, hàng hóa để kết nối với mạng đường bay nội địa và quốc tế.

Nhóm 2 gồm các cảng hàng không Thọ Xuân, Chu Lai, Phù Cát, Tuy Hòa. Các phi trường này có hoạt động quân sự, huấn luyện quân sự thường xuyên, tài sản và đất đai khu bay do Bộ Quốc phòng quản lý.

Nhóm 3 gồm các phi trường Điện Biên, Nà Sản, Đồng Hới, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Rạch Giá, Cà Mau, Phú Quốc và Côn Đảo. Đây là các cảng hàng không ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, cân đối chi thu khó khăn, có công suất quy hoạch đến năm 2030 nhỏ hơn 5 triệu lượt hành khách một năm.

Nhóm 4 gồm các phi trường Cát Bi, Vinh, Phú Bài, Liên Khương, Cần Thơ. Đây là các cảng hàng không có công suất quy hoạch đến năm 2030 lớn hơn 5 triệu lượt hành khách một năm, có tiềm năng phát triển, có khả năng thu hút các nhà đầu tư, không có hoạt động quân sự thường xuyên.

Nhóm 5 gồm các cảng hàng không mới như Sa Pa, Quảng Trị, Lai Châu và các cảng hàng không tiềm năng như Cao Bằng, Hải Phòng (Tiên Lãng), cảng hàng không thứ hai vùng Thủ đô.

Sân bay Nội Bài đang được đề xuất điều chỉnh quy hoạch lên 60 triệu hành khách đến năm 2030. Ảnh:Giang Huy.

phi trường Nội Bài đang được đề xuất điều chỉnh quy hoạch lên 60 triệu hành khách đến năm 2030. Ảnh: Giang Huy.

21 cảng hàng không hiện do Tổng đơn vị Cảng hàng không Việt Nam (ACV) khai thác, các công trình tại phi trường được chia thành 4 cụm để tiện lợi quản lý, khai thác và đầu tư.

Trong đó, cụm 1 – các công trình, hạ tầng hoạt động bay thuộc công trình cần yếu như đài kiểm soát không lưu. Cụm 2 là các công trình đường cất hạ cánh, đường lăn. Cụm 3 là các công trình hạ tầng như sân đỗ, nhà ga hành khách, công trình hạ tầng kỹ thuật. Cụm 4 là các công trình dịch vụ hàng không như nhà ga hàng hóa.

Về phương án đầu tư mở rộng, xây mới các cảng hàng không theo quy hoạch, Bộ Giao thông vận chuyển khẳng định ACV vẫn sẽ đóng vai trò xung yếu, dẫn dắt thị trường đầu tư kết cấu hạ tầng cảng hàng không, nhưng sẽ huy động các nhà đầu tư tư nhân đầu tư tại các phi trường.

Cụ thể, tại phi trường nhóm 1 – Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Long Thành, Tân Sơn Nhất, sẽ huy động nguồn vốn xã hội để đầu tư các công trình dịch vụ hàng không và phi hàng không (Cụm 4) theo hình thức đầu tư mua bán.

Với nhóm 2 – Thọ Xuân, Chu Lai, Phù Cát, Tuy Hòa, trường hợp Bộ Quốc phòng bàn giao khu bay cho Bộ Giao thông vận chuyển hoặc địa phương quản lý, Bộ Giao thông vận chuyển đề xuất huy động nguồn vốn xã hội đầu tư toàn bộ cảng hàng không theo hình thức PPP sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng hiện có để tham gia dự án, đặc biệt là phi trường Chu Lai hiện nay có nhiều nhà đầu tư quan tâm.

Nhóm 3 là các phi trường Điện Biên, Nà Sản, Đồng Hới, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Rạch Giá, Cà Mau, Phú Quốc và Côn Đảo, Bộ Giao thông vận chuyển sẽ chuyển giao khu bay (cụm 2) và ACV chuyển giao các công trình (cụm 3) cho địa phương để chủ động huy động nguồn lực đầu tư.

Nhóm 4 với các phi trường Cát Bi, Vinh, Phú Bài, Liên Khương, Cần Thơ cũng được chuyển giao như nhóm 3.

Đặc biệt đối với nhóm 5 là các cảng hàng không mới như Sa Pa, Quảng Trị, Lai Châu, Cao Bằng, Bộ kiến nghị huy động nguồn vốn xã hội đầu tư toàn bộ cảng hàng không theo hình thức PPP. UBND các tỉnh có quy hoạch cảng hàng không mới là cơ quan có thẩm quyền đầu tư theo phương thức PPP chủ động huy động, cân đối nguồn lực và tổ chức thực hành đầu tư.

Hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp tư nhân đề xuất nghiên cứu, đầu tư các cảng hàng không như Vietjet muốn đầu tư các phi trường Chu Lai, Cát Bi, Tuy Hòa, Điện Biên. đơn vị IPP dự kiến đầu tư các phi trường Phú Quốc, Tuy Hòa; Vingroup muốn đầu tư cảng hàng không Chu Lai. FLC muốn đầu tư vào Cảng hàng không Đồng Hới. đơn vị T&T đề xuất đầu tư phi trường Quảng Trị.

Theo dự thảo quy hoạch cảng hàng không, phi trường được trình Chính phủ, các phi trường quốc tế lớn đóng vai trò đầu mối được xây dựng, mở rộng đến 2030 như Long Thành (giai đoạn 1) đạt công suất 25 triệu hành khách mỗi năm; Tân Sơn Nhất sẽ được mở rộng lên 50 triệu khách; Nội Bài đạt công suất 60 triệu khách; phi trường Đà Nẵng 25 triệu khách…

Quy hoạch xác định nhu cầu vốn đầu tư cho các cảng hàng không trên toàn quốc đến năm 2030 khoảng 403.100 tỷ đồng.

Anh Duy