Doanh nghiep so hoa manh me sau dai dich

Doanh nghiệp số hóa mạnh mẽ sau đại dịch

Nhiều bước tiến dài

Trong lĩnh vực thương nghiệp điện tử, các quy trình số hóa được khai triển sớm và thể hiện được hiệu quả khá lớn.

Vừa nhận danh hiệu “DN chuyển đổi số xuất sắc 2021”, Viettel Post trong một thời gian ngắn khi phải đối mặt với tác động tiêu cực của dịch bệnh đã ứng dụng những công nghệ mới nhất trong vận hành dịch vụ logistics, sở hữu hạ tầng phân tách và lưu trữ dữ liệu lớn cũng như thừa hưởng công nghệ tối tân của Tập đoàn Viettel.

“Trước đây, Viettel Post từng đưa ra quyết định mua bán dựa trên kinh nghiệm và những số liệu thu thập từ các phần mềm riêng lẻ đòi hỏi nhiều thời gian thống kê. Nhưng hiện nay, với việc ứng dụng cộng nghệ, chỉ sau những cú nhấp chuột, chúng tôi có thể theo dõi toàn trình của bưu gửi, nắm bắt chu kỳ thay đổi thị trường, hiểu rõ nhu cầu khách hàng tại từng địa phương. Từ đó, có thể đưa ra chiến lược mua bán thích hợp, ứng phó với nhiều kịch bản của thị trường” – đại diện Viettel Post cho hay.

Hiện Viettel Post đã hoàn thành và liên tục nâng cấp hệ sinh thái số cung cấp dịch vụ tới khách hàng, gồm: ứng dụng chuyển phát ViettelPost, sàn thương nghiệp điện tử Vỏ Sò, biện pháp quản lý bán hàng đa kênh ViettelSale và sàn vận chuyển đa phương thức MyGo…

“Chuyển đổi số tại Viettel Post không diễn ra một sớm một chiều mà là quá trình liên tục và xuyên suốt, gồm nhiều bước: tin học hoá, ứng dụng các phần mềm riêng lẻ rồi số hoá, kết nối mạng trên phạm vi nhỏ và sau đó kết nối hệ thống trên diện rộng, đồng bộ dữ liệu để các hệ thống, phần mềm có thể tương tác, tích hợp với nhau” – Phó tổng GĐ Viettel Post Nguyễn Hoàng Long cho biết.

Trong nhóm tập đoàn nhà nước, không ít đơn vị đặt mục tiêu chuyển đổi số từ trước khi dịch Covid-19 diễn ra. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa hình thành hệ sinh thái số với tên gọi EVNCONNECT, gồm 2 thành phần chính: hệ sinh thái kết nối, hội nhập với các nền tảng số của quốc gia, các nền tảng số của các ngành trong nền kinh tế số và hệ sinh thái nội bộ phục vụ các nghiệp vụ trong EVN.

Ông Dương Quang Thành, Chủ tịch HĐTV tập đoàn, cho hay hơn 29 triệu khách hàng sử dụng điện là một môi trường lý tưởng, tiềm năng cho các đối tác có thể kết hợp, gia tăng các dịch vụ nhằm tối đa hóa lợi ích cho khách hàng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người dân, thu hẹp “khoảng cách số” giữa khu vực thành thị – nông thôn và là tiền đề góp phần mang lại thành công trong việc khai triển chiến lược phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. “Năm 2022, EVN dự kiến cơ bản hoàn thành chuyển đổi số và tạo tiền đề để hoạt động theo mô hình doanh nghiệp số vào năm 2025” – ông Thành thông tin.

Doanh nghiệp số hóa mạnh mẽ sau đại dịch - Ảnh 1.

Khảo sát của Base cho thấy năng lực công nghệ và chuyển đổi số đóng vai trò xung yếu với sự phát triển của DN trong giai đoạn thường nhật mới

Đòi hỏi tất yếu

Kết quả khảo sát của tổ chức CP Base Enterprise với sự tham gia của 271 DN cho thấy dịch Covid-19 buộc DN phải có chiến lược ứng phó riêng. Đáng lưu ý, giả dụ chỉ có 26,88% DN cho biết sẽ xúc tiến doanh thu bằng cách chuyển đổi, mở rộng mô hình mua bán, kênh phân phối… thì có đến 44,66% DN cho biết đầu tư khai triển công nghệ, chuyển đổi số cho vận hành nội bộ. Ngoài ra, sau khi gỡ bỏ giãn cách, chỉ có 8,74% DN quay lại làm việc văn phòng như trước và có đến 60,47% kết hợp làm việc từ xa và làm việc tại văn phòng (hybrid work).

Đặc biệt, có 22,13% DN quay lại mua bán tại chỗ hoàn toàn trong khi có đến 77,08% DN cho biết kết hợp mua bán online và tại chỗ. Có 85,77% DN có quan tâm tìm hiểu công nghệ giúp gia tăng hiệu suất vận hành để đẩy nhanh tốc độ phục hồi.

Báo cáo ghi nhận các DN cho rằng Covid-19 đem lại thời cơ cho họ đẩy mạnh tham gia chuyển đổi số, bán hàng trên sàn thương nghiệp điện tử, phát triển kênh online và tính sổ không dùng tiền mặt. “Chuyển đổi số là điều kiện tiên quyết giúp DN thích ứng với mọi thay đổi khi dịch bệnh được dự báo sẽ khó kết thúc trong 1-2 năm tới” – báo cáo nêu ý kiến của các DN tham gia khảo sát.

Tại một tọa đàm về chuyển đổi số mới đây, chuyên gia kinh tế Nguyễn Hữu Thái Hòa cho rằng chuyển đổi số như một “cây đũa thần” giúp DN tái cấu trúc và chuyển đổi chiến lược song nhiều DN mới số hóa được một phần nhỏ mà đã ngộ nhận chuyển đổi số thành công.

“Không ít người lầm lẫn 2 định nghĩa chuyển đổi số và số hóa. Số hóa là biến đổi các giá trị thực sang dạng số, còn chuyển đổi số là khi có dữ liệu được số hóa rồi, chúng ta phải sử dụng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… để phân tách, biến đổi nó và tạo ra một giá trị khác. Chuyển đổi số là mức độ cao hơn số hóa” – ông Hòa chia phân tách và lưu ý DN nên làm từng bước từ dữ liệu số đến dịch chuyển thông minh hơn.

Cần chủ động hơn nữa

Bà Đinh Thị Thuý, tổng GĐ tổ chức CP MISA (chuyên cung cấp dịch vụ số), cho hay ứng dụng phần mềm lập kế hoạch quản lý ngân sách, DN có thể tiết kiệm 70% thời gian so với việc kế hoạch và trình duyệt qua excel, email.

Ngoài ra, các phần mềm hỗ trợ còn tạo ra cơ sở dữ liệu tài chính cho các ngành, địa phương khi đưa lên thống nhất trên một nền tảng, dữ liệu từ một đầu vào là toàn bộ hệ thống có thể tiếp cận.

Ông Kurt Bình, người sáng lập và CEO tổ chức Smartlog, thì góp ý Chính phủ cần có tầm nhìn mới về chuyển đổi số trong logistics. Theo đó, chuyển đổi số cần nhanh hơn, xanh hơn, tốt hơn, được hợp tác và chia sẻ tốt hơn. “Chính phủ nên tạo ra nền tảng để các bên đấu nối và chia sẻ ngược lại, ứng dụng AI, blockchain để kiểm soát dữ liệu tốt hơn” – ông nói.



Click: Xem thêm

Doanh nghiep Viet bat nhip du lich thoi thuong ngay

Doanh nghiệp Việt bắt nhịp du lịch thời ‘thường ngày mới’ như thế nào…

Doanh nghiệp Việt bắt nhịp du lịch thời bình thường mới như thế nào? - Ảnh 1.

Ba đối tượng khách du lịch trong ‘thường ngày mới’

Ba nhóm du khách trong thời đại ‘thường ngày mới’

Với chủ đề ‘Reimagine Experiences’ (mường tưởng lại các trải nghiệm) của diễn đàn SRI GC, các chuyên gia đã dự báo 3 nhóm đối tượng khách du lịch thời đại mới, gồm: Trải nghiệm công nghệ (Wander Must), Khám phá vững bền (Mindful Explorer), và Sống Chậm (Slow Pacer). Trong đó, Wander Must có thể coi là nhóm khách hàng tiềm năng và khá thú vị đối với thị trường du lịch Việt Nam.

Khảo sát mới đây của Visa’s Green Shoots Radar (2021) cũng chỉ ra rằng Gen Y (Millennials) là những người cởi mở nhất về việc du lịch nước ngoài, với 42% trên tổng số người được khảo sát cho rằng họ sẽ đi du lịch khi có thời gian rảnh trong vòng 12 tháng tới.

Như vậy có nghĩa rằng có một lượng lớn khách du lịch bị mắc kẹt ở nhà trong thời gian dài, nên họ sẵn sàng đi du lịch sớm nhất có thể. 

Gần đây, khi một số địa điểm đã mở cửa chào đón khách du lịch như Phú Quốc, Đà Lạt, dễ dàng nhận thấy một lượng khách du lịch tăng đột biến trong giai đoạn tháng 10 đến tháng 11 vừa qua, đặc biệt là các bạn trẻ. Đây được xem là dấu hiệu cho thấy thời cơ phục hồi nhanh chóng của du lịch trong và ngoài nước.

Wander Must – Công nghệ ‘đẩy’ thăng hoa

Sự ra đời của Metaverse (vũ trụ kỹ thuật số) đã tạo nên một ‘không gian thứ ba’ – nơi có cách thức giao tiếp hoàn toàn mới. Công nghệ là đòn bẩy giúp ngành du lịch của nhiều quốc gia chủ động thay đổi mô hình mua bán, để thu hút sự lưu ý của du khách, nhất là nhóm yêu thích trải nghiệm công nghệ Wander Must.

Trong tương lai gần, nhóm Wander Must mong muốn được đáp ứng 3 nhu cầu sau: (1) kiếm tìm những góc nhìn mới mẻ trong cuộc sống, (2) Trải nghiệm sự vội vã và (3) Khám phá những niềm vui. Đây chính là các từ khóa hiểm yếu doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn cho cơn sốt du lịch ảo, giúp thoả mãn “cơn khát” của những giáo đồ mê di dịch.

Doanh nghiệp Việt bắt nhịp du lịch thời bình thường mới như thế nào? - Ảnh 2.

National Gallery đã tổ chức triển lãm thực tế ảo song hành Children’s Biennale để mang trải nghiệm du lịch mới lạ cho trẻ em trên khắp thế giới

Theo nghiên cứu của WGSN – tổ chức dự báo xu hướng toàn cầu, Wander Must là tập khách du lịch có xu hướng mê say trải nghiệm công nghệ kỹ thuật số. Họ là những người sẵn sàng khám phá lại những trải nghiệm du lịch độc đáo đã từng có trước đó. 

Điều này có nghĩa rằng, nếu doanh nghiệp du lịch tận dụng được công nghệ, để ra mắt những trải nghiệm du lịch đột phá và độc đáo so với những trải nghiệm du lịch đã có, thì doanh nghiệp sẽ đáp ứng được mong muốn của nhóm đối tượng này.

Doanh nghiệp Việt bắt nhịp du lịch thời bình thường mới như thế nào? - Ảnh 3.

Vở kịch tương tác trực tuyến ‘The Curious Case of The Missing Peranakan Treasure’ bán vé trên toàn thế giới

Ở Singapore, triển lãm thực tế ảo song hành Children’s Biennale và vở kịch tương tác trực tuyến ‘The Curious Case of The Missing Peranakan Treasure’ (Sự mất tích bí mật của kho báu Peranakan) là 2 trong nhiều ví dụ nổi trội nhất cho việc vận dụng công nghệ để đưa trải nghiệm du lịch thăng hoa. 

Nhờ có công nghệ, trẻ em trên khắp thế giới được tham quan triển lãm Children’s Biennale, tham gia games và các câu chuyện minh hoạ đầy lý thú. Cũng nhờ có công nghệ, chỉ cần ngồi ở nhà cũng tham quan được khách sạn Raffles Singapore nổi tiếng, cũng tham gia được vào vở kịch tương tác của Double Confirm Productions và Sight Lines Entertainment.

Doanh nghiệp Việt Nam chuyển mình như thế nào?

Theo ông Trần Trọng Kiên – chủ tịch Thiên Minh Group – công nghệ thực tế ảo – thực tế ảo tăng cường VR/AR sẽ xuất hiện trong ngành du lịch Việt Nam trong 6-12 tháng tới. Việt Nam cũng đang có nhiều dự án ‘travel by design’, thiết kế bởi những kiến trúc sư hàng đầu thế giới.

Tính đến thời khắc này, Sơn Đoòng (Quảng Bình), Đà Nẵng và Mộc Châu (Sơn La) là những địa điểm đã thành công trong việc số hoá tour du lịch. Các tour du lịch ảo này là chất dẫn để du lịch truyền thống nhanh chóng bùng nổ sau khi COVID-19 được khống chế.

Doanh nghiệp Việt bắt nhịp du lịch thời bình thường mới như thế nào? - Ảnh 4.

Với 23 địa điểm được hiển thị trên bản đồ hang Sơn Đoòng 3D, du khách sẽ bất thần trước vẻ đẹp ngoạn mục bên trong kỳ quan lớn nhất thế giới

Doanh nghiệp Việt đã và đang sử dụng công nghệ để thay đổi mô hình mua bán bắt kịp xu hướng du lịch mới. Bên cạnh đó, để đạt được những thành tựu lớn hơn, lao động trong ngành du lịch vẫn cần kiên định, tận tâm và không ngừng cố gắng. 

Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng của Chính phủ và các doanh nghiệp trong ngành, kinh tế Việt Nam nói chung và du lịch Việt Nam sẽ có sự phục hồi tốt nhất trong năm 2022.

Click: Xem thêm

Doanh nghiep muon vay von lai suat khoang 4 mot

Doanh nghiệp muốn vay vốn lãi suất khoảng 4% một năm

Hà NộiCác doanh nghiệp cho biết đang chờ đợi một gói kích cầu khái quát, trong đó có gói vay lãi suất rẻ hơn hiện tại 3-4% để giúp họ hồi phục sức khoẻ sau đại dịch.

Hiện mức vay phổ biến của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hà Nội được đánh giá có “sức khoẻ” tốt dao động 6-8% một năm. “Các doanh nghiệp muốn được vay vốn rẻ hơn và rất mong có tiền tươi đến với họ”, ông Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ TP Hà Nội nói với VnExpress tại cuộc họp về lễ tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân Thăng Long 2021, ngày 24/11.

Chương trình khôi phục kinh tế khái quát đã được Bộ Kế hoạch & Đầu tư hoàn thiện, trình Chính phủ cho ý kiến. Quy mô gói kích thích kinh tế này chưa được “chốt”, song theo nhiều chuyên gia có thể lên tới 800.000 tỷ đồng (tương đương 35 tỷ USD, khoảng 10% GDP). Nhưng ở quy mô nào thì việc “cần có tiền tươi thóc thật” hỗ trợ doanh nghiệp nhằm phục hồi kinh tế, tạo đòn bẩy cho tăng trưởng đang được các doanh nghiệp chờ đợi.

Nói về chính sách để hỗ trợ kinh tế phục hồi sau những tổn hại từ đại dịch, ông Anh cho rằng, nhà chức trách nên tính toán và ưu tiên hỗ trợ các đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ông Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ TP Hà Nội. Ảnh: Ngọc Minh

Ông Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ TP Hà Nội. Ảnh: Ngọc Minh

Chẳng hạn tại Hà Nội, trong số hơn 318.000 doanh nghiệp, có khoảng 98% là vừa và nhỏ. Dịch Covid-19 đã khiến các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông, vận chuyển hàng hóa, hành khách và nhiều lĩnh vực dịch vụ như y tế, giáo dục, ăn uống, tạm cư, du lịch, tiêu khiển, nhà hàng, khách sạn… bị liên quan nặng nề. Nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất mua bán hoặc bị ngừng hoạt động.

Theo ông Anh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ mong mỏi được miễn thuế, phí hơn là giãn, hoãn như trước đây. Về lãi suất, họ cũng muốn được vay với mức lãi rẻ hơn hiện tại, khoảng 3-4% để duy trì dòng vốn hoạt động.

Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ TP Hà Nội phân tách thêm, với các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng thì vốn, dòng tiền là “máu” của họ, nên tất cả đều mong muốn tới đây sẽ được vay với mức lãi suất rẻ hơn để phục hồi hoạt động.

Chẳng hạn, nếu được vay với mức lãi khoảng 4% một năm trong gói hỗ trợ kích thích kinh tế, doanh nghiệp vừa có thêm nguồn tiền, sản phẩm cũng cạnh tranh hơn và người tiêu dùng được hưởng lợi về giá.

Kỳ vọng về gói kích thích phục hồi lần này, ông Thân Đức Việt, tổng GĐ Tổng doanh nghiệp May 10 cho rằng, đây sẽ là luồng ôxy mới kích thích, hồi phục sức khoẻ doanh nghiệp. Theo vị CEO này, trải qua các đợt dịch, nguồn lực của các doanh nghiệp gần như cạn. Vì thế, họ rất cần sự trợ lực vốn rẻ hơn từ các chính sách hỗ trợ của nhà nước.

“Việc hỗ trợ trực tiếp tới người dân là biện pháp tức thời, nhưng trong dài hạn rất cần gói kích thích gián tiếp, cho vay lãi suất rẻ. Doanh nghiệp có thêm nguồn lực, phát triển thì người dân có việc làm, thu nhập”, ông nói.

Trong các thảo luận gần đây về chương trình hỗ trợ phục hồi kinh tế khái quát, giới chuyên gia cũng lưu ý, ngoài mức lãi suất vay hợp lý, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tới đây cần theo hướng tập trung hơn, hỗ trợ thực chất hơn. Các gói vay hỗ trợ cần đơn giản những thủ tục về quy trình để phần đông doanh nghiệp cần vốn có thể vay được.

Ông Quốc Anh cũng đồng tình khi cho rằng các điều kiện cho vay “cần giảm thiểu ở mức tối đa” để doanh nghiệp tiếp cận. Theo ông, hai năm qua các doanh nghiệp đã gần cạn sức chống chọi với dịch. Nếu quy trình tiếp cận các gói hỗ trợ, nhất là điều kiện cho vay quá khắt khe như yêu cầu phải có tài sản đảm bảo, phương án mua bán khả thi hay không bị nợ xấu… sẽ rất khó có doanh nghiệp đảm bảo, vay được vốn.

Trong lúc chờ đợi những quyết sách hỗ trợ từ phía chính quyền, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội cho hay, bản thân các doanh nghiệp đã có những bước chuyển mình như cơ cấu lại ngành nghề, cơ cấu lại đầu tư… để tồn tại sau dịch.

Nhằm khích lệ những doanh nghiệp Thủ đô vượt khó trong đại dịch, chương trình tôn vinh doanh nhân, doanh nghiệp Thăng Long năm 2021 sẽ được tổ chức ngày 27/12 tới, với sự tham gia của khoảng 200 doanh nhân, doanh nghiệp điển hình. Lễ tôn vinh này là sự kết nối giữa chính quyền thành phố và hiệp hội, doanh nghiệp và người dân, từ đó tạo sức mạnh đoàn kết vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ phát triển trong bối cảnh kinh tế chịu liên quan bởi dịch Covid-19.

Anh Minh

Click: Xem thêm

Doanh nghiep My tang gap doi phi ton duy tri

Doanh nghiệp Mỹ tăng gấp đôi phí tổn duy trì 50% sản lượng

Sự lắng nghe cùng những quyết sách hợp lý của cơ quan quản lý trong đỉnh dịch giúp doanh nghiệp FDI vững tin đầu tư lâu dài tại Việt Nam.

Chia sẻ trong talkshow Nguy – Cơ, bà Mary Tarnowka – Giám đốc điều hành Phòng thương nghiệp Mỹ tại Việt Nam (AmCham) cho biết, khi làn sóng thứ tư ập tới, các đơn vị nước ngoài ở Việt Nam và các đơn vị Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Ngành du lịch trong nước mới phục hồi đã nhanh chóng bị bóp nghẹt. Covid-19 cũng tác động đến các đơn vị sản xuất. Nhiều đơn vị chẳng thể duy trì hoạt động, hoặc nếu có thể duy trì theo mô hình bong bóng cũng tốn kém, phức tạp.

Dưới góc độ lãnh đạo doanh nghiệp, ông Jonathan Moreno – tổng GĐ Diversatek Việt Nam cho biết: “Về cơ bản, chúng tôi phải chi hơn gấp đôi số tiền để sản xuất ra 50% sản lượng. Nhiều đơn vị khác còn không hề sản xuất mà chỉ làm việc để đảm bảo tinh thần viên chức khi phải ở lại đơn vị 24/24”.

Ông Jonathan Moreno - Tổng Giám đốc Diversatek Việt Nam.

Ông Jonathan Moreno – tổng GĐ Diversatek Việt Nam. Ảnh chụp màn hình

Hiện tại, doanh nghiệp này vẫn cho viên chức xét nghiệm hai lần một tuần. Nhưng số lượng xét nghiệm phải thực hành cùng việc duy trì giãn cách xã hội, đảm bảo không có lây lan. Nhiều thành viên AmCham khác trong lĩnh vực sản xuất cũng gặp phải những vấn đề tương tự.

Theo bà Mary, các doanh nghiệp tại Việt Nam đã vượt qua thời kỳ tồi tệ nhờ những quyết sách của chính quyền các địa phương để điều chỉnh cuộc sống trong trạng thái thông thường mới. Nhiều đơn vị FDI Mỹ tại Việt Nam đã hoạt động trở lại với gần 100% công suất.

Nhiều y bác sĩ và nhà cung cấp dịch vụ y tế Mỹ đã hợp tác với đội ngũ bác sĩ tại các địa phương làm xét nghiệm trong các đợt tiêm chủng đầu tiên. Các đơn vị thành viên AmCham đã hăng hái hoạt động để đưa các loại vaccine về Việt Nam. Một trong những đơn vị thành viên khác của đơn vị này có gần 600 hiệu thuốc bán lẻ trên toàn quốc, đi đầu trong việc cung cấp khẩu trang và nước rửa tay, sau đó là bộ test nhanh cho người dân.

Việc người lao động ồ ạt về quê cũng là thách thức với các doanh nghiệp FDI. Tuy nhiên, Diversatek Việt Nam có nhiều lao động hơn trước nhờ những chính sách chăm sóc, hỗ trợ viên chức. Dù vậy, doanh nghiệp này đang đối mặt với những khó khăn liên quan đến chuỗi cung ứng toàn cầu, phí tổn vận chuyển hiện cũng tăng gấp 4-5 lần so với một năm trước.

Ông Jonathan hiện đảm nhiệm cùng lúc hai nhiệm vụ: giám sát quá trình sản xuất ở Việt Nam và theo dõi doanh số bán của đơn vị ở thị trường quốc tế. “Khách hàng quốc tế liên tục ‘khủng bố’ tài khoản Whatsapp của tôi, vì họ cần thứ gì đó ngày bữa qua, nhưng không hiểu chúng tôi phải nỗ lực để đưa sản phẩm đến họ”, ông Jonathan nói. Chìa khóa để vượt qua giai đoạn này, theo ông Jonathan là sự kiên trì, bởi các bên đều đang nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất.

Triển vọng đầu tư tại Việt Nam

Theo nhà băng Thế giới, dòng vốn FDI vào Việt Nam vẫn tăng khoảng 4,4% so với cùng kỳ năm ngoái. 9 tháng năm 2021, số vốn FDI vào Việt Nam đạt khoảng 22 tỷ USD. Trong đó, lượng thành viên AmCham vẫn tiếp tục tăng. Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn cho ngành sản xuất, bởi các đơn vị muốn đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Vị chuyên gia từ AmCham đồng thời đánh giá cao thời cơ trong các lĩnh vực nội thất, giày dép, may mặc, công nghệ, năng lượng tái hiện, điện khí LNG, tiêu dùng, y tế, hạ tầng hàng không; công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, y tế…

Trong Covid-19, AmCham và các nhà lãnh đạo tự nguyện của đã làm việc 24/7 để trợ giúp các đơn vị thành viên. “tổng GĐ của các nhà máy còn nằm ngủ trên sàn nhà cùng với các đội nhóm để duy trì hoạt động mua bán”, bà Mary cho biết.

Đóng vai trò là tiếng nói của doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam, AmCham cho biết đã cố gắng làm tất cả những gì có thể để cập nhật tin tức cho Chính phủ Mỹ về những thách thức mà các đơn vị thành viên đang phải đối mặt. Đơn vị đã tổ chức một số sự kiện trực tuyến với các lãnh đạo từ Bộ Ngoại giao, Bộ thương nghiệp, Hội đồng An ninh Quốc gia, cũng như với cố vấn của Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris khi bà đến Việt Nam. AmCham cũng tham gia cuộc họp cấp cao với Chính phủ Việt Nam, trong đó có cuộc gặp với Thủ tướng Chính phủ và nhiều đơn vị thành viên vào đầu tháng 9. Đồng thời, Phòng thương nghiệp Mỹ tại Việt Nam cũng có nhiều cuộc họp ngay tại TP HCM với lãnh đạo nhiều tỉnh trong cả nước, nhằm chia sẻ tâm tư nguyện vọng, các kiến nghị, các biện pháp của các thành viên AmCham.

“Tôi nghĩ rằng cả Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Mỹ đều lắng nghe và tiếp thu những tâm tư nguyện vọng của doanh nghiệp. Những thách thức mà các doanh nghiệp thành viên gặp phải tại Việt Nam là lý do rất hiểm yếu để thuyết phục Chính phủ Mỹ tài trợ thêm vaccine cho Việt Nam”, nữ đại diện cho biết.

Chính phủ Việt Nam đã chú trọng đến những mối quan ngại của các doanh nghiệp thành viên AmCham, doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp các quốc gia khác, và cố gắng điều chỉnh các chính sách để đạt được những mục tiêu kép là bảo vệ cuộc sống và sinh kế của mọi người.

Một trong những ý kiến cụ thể mà AmCham đã đề xuất và được Chính phủ hỗ trợ là các mô hình bong bóng như một biện pháp tạm thời. Đơn vị cũng làm rõ với Chính phủ rằng những mô hình này không vững bền. Các doanh nghiệp cần đảm bảo các công nhân được tiêm vaccine và xét nghiệm thường xuyên để có thể đi lại từ nhà đến nhà máy. Khi đó, họ sẽ không cần phải ở lại nhà máy hay ở lại các nhà nghỉ và sống xa gia đình trong thời gian dài.

“Tôi nghĩ Chính phủ đã nghiêm trang lắng nghe chúng tôi. Khi có nhiều vaccine về Việt Nam, Chính phủ đã ưu tiên tiêm vaccine cho công nhân trong các nhà máy. Điều đó có lợi cho các doanh nghiệp thành viên của chúng tôi cũng như nền kinh tế”, bà Mary nói.

Vấn đề kế tiếp mà AmCham đã nêu ra liên quan đến vận chuyển hàng hóa và hành khách liên tỉnh, vì nó kìm hãm chuỗi cung ứng trong nước. Việt Nam đã lắng nghe và có nhiều nỗ lực để các tỉnh hợp tác với nhau, để người lao động sống ở tỉnh này và làm việc ở tỉnh khác có thể đi lại một cách an toàn, thuận tiện.

Bà Mary Tarnowka - Giám đốc điều hành Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham).

Bà Mary Tarnowka – Giám đốc điều hành Phòng thương nghiệp Mỹ tại Việt Nam (AmCham). Ảnh chụp màn hình.

Những cuộc đối thoại thường xuyên với Chính phủ cũng được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao. “Năm ngoái, có những lúc mà chúng tôi vừa đề xuất một ý kiến, và Chính phủ đã phản hồi luôn vào ngày hôm sau. Tôi nghĩ rằng tốc độ tương tác như thế đã dẫn đến những kết quả hăng hái một cách nhanh chóng”, ông Jonathan nói. “Việt Nam có nhiều chính sách thu hút đầu tư. Nhiều chính sách thường xuyên được cải thiện. Trong tương lai, đây thậm chí còn là một điểm đầu tư lý tưởng. Vì vậy, cộng đồng doanh nghiệp vẫn đánh giá rất hăng hái về Việt Nam”.

Đánh giá về triển vọng đầu tư tại Việt Nam, đại diện AmCham cho biết, Việt Nam vẫn là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong khu vực. Việt Nam có vị trí thuận tiện về mặt địa lý, gần với các quốc gia sản xuất và các điểm đến của người tiêu dùng.

Việt Nam có mạng lưới các hiệp nghị thương nghiệp tự do toàn cầu, được hưởng lợi từ lực lượng lao động trẻ thông thuộc công nghệ. Chính phủ Việt Nam tiếp cận cởi mở với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. “Việt Nam có những thời cơ đáng sửng sốt trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nền kinh tế kỹ thuật số, công nghệ, khởi nghiệp chỉ vừa mới đạt đến giới hạn mà tôi dự đoán. Tôi nghĩ Việt Nam sẽ thực sự đi đầu trong lĩnh vực này ở khu vực cũng như thế giới”, bà Mary nhận định.

Hoài Phong

Click: Xem thêm

Doanh nghiep khat nhan luc 40

Doanh nghiệp “khát” nhân lực 4.0

Ông Vũ Duy Thức – tiến sĩ người Việt ở Silicon Valley (Mỹ), nhà sáng lập tổ chức giáo dục, tập huấn trí tuệ nhân tạo VietAI – nêu số liệu Việt Nam hiện có 400.000 kỹ sư nhưng chỉ 10% trong đó có nhu cầu học về trí tuệ nhân tạo (AI) và 1% có điều kiện học. Đây là con số quá ít trong bối cảnh AI đã trở nên xu hướng chẳng thể khác. “Dân công nghệ thế giới truyền nhau câu nói “Software ate the world, now AI is eating Software”. Tạm dịch là trước đây, phần mềm “ăn” cả thế giới nhưng hiện thời, AI “ăn” cả phần mềm” – ông Thức ví von.

Gấp rút tập huấn lại

Theo ông Vũ Duy Thức, cuộc đua AI trên toàn cầu đang xoay quanh 3 trục chính là Mỹ, Trung Quốc và châu Âu. Trong đó, Trung Quốc đứng thứ 2 và theo sát nút quốc gia số 1 về đổi mới sáng tạo là Mỹ. Do đó, nếu Việt Nam không có chiến lược tự chủ nguồn nhân lực 4.0 để ứng dụng AI vào các lĩnh vực của nền kinh tế giống như cách Trung Quốc đang làm, chúng ta có khả năng sẽ bị phụ thuộc vào công nghệ của nước láng giềng.

Ông Trần Trung Hiếu, nhà sáng lập TOPCV (đơn vị công nghệ cung cấp nền tảng kết nối thời cơ việc làm), chỉ rõ mặc dầu số lượng sinh viên tốt nghiệp hằng năm rất lớn nhưng số có năng lực thực sự và thích hợp nhu cầu của doanh nghiệp (DN) lại rất ít. 

“Trong quá trình hỗ trợ nhiều DN tuyển dụng, đặc biệt là DN công nghệ, chúng tôi nhận thấy hoạt động tập huấn trong trường đại học hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu. Chiến lược sắp tới trong tập huấn nguồn nhân lực là phải đẩy mạnh tập huấn lại, tập huấn mới nhân sự trẻ, nhất là thế hệ “gen Z”. Trong đó, phải xác định thang đánh giá về nhân lực để tập huấn đúng hướng. Các DN lớn như FPT, Viettel, VNPT có thể cùng nhau xây dựng khung năng lực tương ứng với mức lương để tập huấn đồng bộ” – ông Hiếu góp ý.

Doanh nghiệp khát nhân lực 4.0 - Ảnh 1.

Các doanh nghiệp đang cần nguồn nhân lực 4.0 đủ lớn cho giai đoạn phát triển “hậu Covid-19”. Ảnh: HOÀNG TRIỀU

Theo ông Đỗ Ngọc Hoàng, Giám đốc Học viện FPT Software, DN hiện vất vả nhất trong khâu tập huấn để người lao động có thể làm việc được ở DN. Trong 3 năm trở lại đây, mỗi năm, Học viện FPT Software phải nhận tập huấn 3.000-4.000 học viên trong nhiều tháng liên tục mới có thể đáp ứng được nhu cầu làm việc tại các dự án. 

“Để thích ứng được với thời đại công nghệ 4.0, sinh viên, người lao động cần khả năng tự học thông qua đọc hiểu đa tiếng nói, đây là điểm hạn chế rất lớn của lao động người Việt. Đồng thời, cần có kỹ năng tốt trong việc kiếm tìm – học tập trên mạng, tự kết nối và nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề” – ông Hoàng góp ý.

Nhà nước và tư nhân cùng tập huấn

Nhận thức được tầm hiểm yếu của tập huấn nguồn nhân lực 4.0, mới đây, Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kết hợp cùng Trung tâm Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) công bố hoạt động “Nguồn nhân lực cho đổi mới sáng tạo – Hệ sinh thái khởi nghiệp” (USAID-WISE). Chương trình đặt mục tiêu hỗ trợ các mô hình tập huấn mang tính định hướng thị trường và phát triển vững bền, sẵn sàng cho cuộc cách mệnh công nghiệp lần thứ tư.

Dẫn báo cáo xếp hạng Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2021 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới công bố, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Duy Đông cho hay Việt Nam xếp thứ 44/132 quốc gia và nền kinh tế. Tuy nằm trong tốp 50 quốc gia và nền kinh tế dẫn đầu về đổi mới sáng tạo song hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã bước qua giai đoạn phát triển về số lượng và đang bước vào giai đoạn phát triển hiểm yếu với đòi hỏi đầu tư theo chiều sâu. “Để làm được điều này, phát triển nguồn nhân lực được xem là nền tảng hiểm yếu” – Thứ trưởng Trần Duy Đông nhấn mạnh.

Ông Trần Duy Đông cũng chỉ rõ nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật máy tính, tự động hóa… của Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Do đó, USAID-WISE được khai triển với mục tiêu tập huấn kỹ năng số cơ bản cho sinh viên và người mới gia nhập thị trường lao động, xây dựng một thị trường năng động, chất lượng về tập huấn nâng cao và tập huấn lại kỹ năng số…

Theo ông Phan Vinh Quang, Giám đốc dự án USAID-WISE, nền kinh tế Việt Nam đang tồn tại song song 2 khu vực kinh tế là “kinh tế truyền thống” cạnh tranh bằng tổn phí thấp và “kinh tế mới” cạnh tranh dựa vào công nghệ số. Sự hòa quyện giữa 2 khu vực kinh tế để tận dụng được lợi thế của nhau là cấp thiết. Trong đó, nguồn nhân lực 4.0 đáp ứng nhu cầu thị trường chính là mắt xích kết nối hiểm yếu nhất giữa 2 khu vực kinh tế này. 

“Xu thế của thế giới hiện nay không chỉ dừng ở tập huấn lại đối với sinh viên mới ra trường, lao động phổ thông bị mất việc làm và tập huấn nâng cao với đối tượng đang làm việc mà còn hướng tới tập huấn suốt đời theo sự thay đổi của công nghệ. tập huấn nhân lực 4.0 tại Việt Nam cũng cần theo định hướng này. Trong đó, các tổ chức, cơ sở tập huấn tư nhân với ưu thế chương trình, nội dung tập huấn thay đổi nhanh, đa dạng theo nhu cầu thị trường chính là nhân tố mới trong chiến lược hình thành thị trường tập huấn nguồn nhân lực” – ông Quang nhìn nhận.

Trên cơ sở đó, USAID-WISE đã đưa ra một chương trình tập huấn liên kết với tổng kinh phí 2 triệu USD trong giai đoạn 2021-2023. Dự án tập trung vào các chương trình tập huấn mang tính thị trường. DN hoặc tổ chức nào cung cấp khóa học tốt sẽ được lựa chọn trở nên đối tác của USAID-WISE và được giải ngân để khai triển khóa học. USAID-WISE sẽ có các chỉ số đo lường kết quả hoạt động và cân nhắc tiếp tục mở rộng chương trình giả dụ khóa học hiệu quả. 

tập huấn theo nhu cầu riêng

Ông Hoàng Văn Cương, Phó Giám đốc Tổ chức tập huấn trực tuyến FUNIX (thuộc FPT), cho biết xuất phát từ thực tế trên thị trường, FUNIX đã có ý tưởng tổ chức, điều chỉnh nội dung chương trình tập huấn chuyên biệt cho từng DN cụ thể thay vì chương trình chung cho tất cả DN. Việc này nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của mỗi DN. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả, người học cần mạnh dạn từ bỏ cách học thụ động, tăng cường tiếp xúc với nguồn học liệu trên internet… “Chúng tôi hướng học viên đến việc đặt câu hỏi, giáo viên chỉ giải đáp, phải hỏi càng nhiều càng tốt, không hỏi đủ số lượng câu hỏi thì không tốt nghiệp được” – ông Cương nói.



Click: Xem thêm